Bình giải các cách tử vi (ST)

MC LC (CLICK VÀO MC
MU
N XEM)

CÁCH
ĐẸP, CÁC SAO NHAN SẮC

CÁCH
ÁI TÌNH, CÁC SAO TÌNH DỤC

CÁCH
ĂN NHẬU, CÁC SAO ĂN NHẬU

CÁCH
HÙNG BIỆN, CÁC SAO NGÔN NGỮ

CÁCH
GIAN PHI, CÁC SAO GIAN PHI

VÀI
CÁ TÍNH ĐẶC BIỆT (GHEN TUÔNG, NÓNG NẢY, TỰ
ÁI LỚN, ÍCH KỶ, ĐA NGÔN)

CÁCH
KHOA BẢNG – NHỮNG SAO HỌC VẤN

CÁCH
NGHỀ NGHIỆP – NHỮNG
SAO BÁ NGHỆ

CÁCH
GIÀU – NHỮNG SAO HỮU SẢN

CÁCH
NGHÈO – NHỮNG SAO NGHÈO

CÁCH
THỌ, CÁCH YỂU – NHỮNG
SAO YỂU, THỌ

CÁCH
BỆNH,TẬT – NHỮNG
SAO BỆNH, TẬT

CÁCH
HỌA, NHỮNG SAO GÂY HỌA

CÁCH
GIẢI HỌA, NHỮNG
SAO GIẢI

CÁCH
SINH, KHẮC VỢ CHỒNG
– NHỮNG SAO XUNG, HỢP GIA ĐẠO

CÁCH
ĐA PHU – NHỮNG SAO NHIỀU CHỒNG

CÁCH
HIẾM MUỘN CON – NHỮNG
SAO HIẾM CON

CÁCH ĐP, CÁC SAO NHAN
S
C

Thiên Tướng: Người đẹp
đẽ, uy nghi, có tinh thần khí sắc, cao vừa, da trắng, mặt đẹp, dáng oai vệ.

Thái Dương: Người đẫy
đà, da hồng, mặt vuông đầy uy nghị bệ vệ, bộ mặt sáng rỡ.

Thái Âm: Người to lớn,
hơi cao, da trắng, mặt vuông đầy, mắt sáng, đẹp.

Phá Quân: Người to lớn
có thân hình cao vừa tầm, da hồng, mặt đầy, mắt lộ, hầu lộ, lông mày thưa.

Tham Lang: Người vạm
vỡ, da trắng, mặt đầy, có nhiều lông, tóc và râu.

Thiên Cơ: Người có
thân hình cao, xương lộ, da trắng, mặt dài nhưng đầy.

Thiên Đồng: Thân hình
nở nang, hơi thấp, chân tay ngắn, da trắng, mặt vuông và đầy.

Thiên Lương: Người
thon, cao, da trắng, vẻ mặt thanh tú, khôi ngô.

Thiên Phủ: Người có
thân hình đầy đặn, da trắng, vẻ mặt thanh tú, khôi ngô, răng đều và đẹp, phụ nữ
thì tươi đẹp như hoa.

Tử Vi: Người cao
đẫy đà, da hồng, mặt đầy.

Vũ Khúc: Người nở
nang, cao vừa tầm, nặng cân, đầu và mặt dài, vẻ mặt uy nghi, tiếng to.

Văn Xương, Văn Khúc: Người có vẻ mặt thanh tú, khôi ngô hợp với quý tướng.

Long Trì, Phượng Các: Nhan sắc đẹp, da hồng hào, thanh tú

Thanh Long: Người
phương phi, tú khí, có cốt cách sang

Đào Hoa, Hồng Loan: Người rất đẹp, có nhan sắc (Đào Hoa), duyên dáng (Hồng
Loan)

 

CÁCH ÁI TÌNH,
CÁC SAO TÌNH D
C

1. Những sao tình dục chung
cho hai phái:

a. Những dâm tinh nặng ý nghĩa nhục dục:

Tham Lang: Chỉ sự
tham dục lớn lao, nhất là khi hãm địa thì tính nết càng sa đọa, hư đốn, lăng
loàn. Thông thương, Tham Lang chỉ hạng người dễ động tình, xấu máu về sắc dục,
bị thu hút bởi nhu cầu sinh lý và chạy theo nhu cầu này một cách mù quáng, bất
chấp đạo đức, gia đình, dư luận. Nết dục của Tham Lang (võ tinh) có ít nhiều bạo
tính, dục động, khó kìm chế. Ngoài ra, Tham Lang thụ hưởng sinh lý một cách ích
kỷ, nghĩ đến mình nhiều hơn đến bạn đồng tình, thiếu tế nhị, cao thượng, vị
tha. Tham Lang đặc biệt bất lợi cho phái nữ. Nữ có sao này có ít nhiều đĩ tính,
nếu Phúc – Mệnh – Thân xấu và có thêm sao tình dục khác: đây là hạng gái giang
hồ. Còn Nam số có Tham Lang là kẻ ăn chơi, đàng điếm, hoang dâm, nếu không có đủ
sao mạnh chế khắc.

b. Nghề kỹ nghệ:

Hạng công nhân kỹ nghệ
có các sao và bộ sao sau miêu tả:
Phá Quân ở Dần, Thân, Thìn, Tuất – Thất Sát, Kình Dương –
Vũ Khúc, Phá Quân đồng cung – Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung – Thiên Cơ, Thiên
Hình, Kiếp Sát – Kình Dương, Hỏa hay Linh Tinh – Liêm Trinh, Phá Quân đồng cung
. Những bộ sao trên không đắc địa, gần như có nghĩa bần
hàn, cực khổ, thích hợp cho hạng công nhân.

Đối với hạng chủ nhân,
chuyên viên, kỹ sư, tư bản hoạt động trong ngành kỹ nghệ, họ phải có sao học vấn
cao hoặc là những bộ sao trên nhưng sáng sủa nhờ Tuần, Triệt hay ở vị trí đắc địa,
đồng thời cũng phải có những bộ sao của nghề thương mại. Trong ngành kỹ nghệ
nói riêng có hai sao dưới đây đáng lưu ý:

Thiên Cơ: chỉ tất cả
các loại máy móc lớn nhỏ của ngành kỹ nghệ, chỉ sự tinh xảo trong nghề nghiệp.
Hai ý nghĩa này ghép lại chỉ người chuyên môn về máy móc. Đắc địa thì là kỹ sư,
hãm thì là thợ máy.
Thiên Cơ, Hỏa Tinh hay Linh Tinh: chỉ máy hay lò luyện sắt thép, nấu quặng, hoặc máy tạo
hơi nóng, máy sấy, máy phát điện.

Thiên Cơ, Thái Âm hay Thiếu Dương, Thiếu Âm chỉ máy điện và tất cả máy móc sử dụng điện, cũng có thể
là máy điện tử.
Thiên Cơ, Thiên Mã chỉ máy xe các loại hay phi cơ, tàu thủy.

Thiên Hình: chỉ dao,
kéo hay cơ khí, nói chung các sản phẩm kỹ nghệ bằng kim khí.

3. Những nghề liên quan đến
khoa học ứng dụng:

a. Nghề điện: Thái Dương, Thái Âm – Thiếu Dương, Thiếu Âm
– Hỏa Tinh, Linh Tinh

b. Nghề nha: Tuế Phá chỉ bộ răng. Thiên Hình hay Kiếp Sát chỉ sự mổ xẻ, chắp vá. Tấu Thư hay Hồng Loan chỉ khéo tay, tinh xảo.

c. Nghề dược: Thiên Y chỉ thuốc men. Hóa Kỵ chỉ các
dung dịch, hóa chất bào chế.

d. Nghề y:

+ Về mặt cứu độ:

Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương: chỉ sự làm việc nghĩa. Người có cách này có thiên tính,
hay giúp đỡ kẻ khác, có khuynh hướng xã hội rất cao, hay làm phúc, tạo phúc và
có cơ hội tích phúc. Đây là bộ sao cần thiết cho y sĩ.

Thiên Tướng: biểu tượng
cho vị cứu tinh của nhân loại, mang lại công bình, hạnh phúc cho nhân thế trong
tinh thần cứu nhân độ thế.

Thiên Y: trực tiếp
nói về y học. Người có Thiên Y tính sạch sẽ, vệ sinh và có năng khiếu về thuốc
men. Ngoài ra, Thiên Y cũng có nghĩa cứu giải bệnh tật và có nghĩa hay dùng thuốc
khi có bệnh. Những sao trên cần đóng ở cung Mệnh, Thân hay Quan mới có điều kiện
cứu độ của một y sĩ, mới có triển vọng hành nghề. Nếu đóng ở Tài thì y sĩ này
có xu hướng lý tài, trục lợi, bóc lột bệnh nhân mặc dù ở cung đó, tài lộc sẽ được
dồi dào hơn ở vị trí khác.

Ngoài ra, còn có những
sao trợ y:
Ân
Quang, Thiên Quý – Thiên Quan, Thiên Phúc – Tả Phù, Hữu Bật
. Ân Quang, Thiên Quý chỉ cái phúc do Trời ban cho.
Đi với bộ sao bác sỹ, ông này sẽ được nổi tiếng nhờ mát tay, nhờ hên may, được
linh thiêng phù trợ, soi sáng dẫn dắt trong vấn đề trị liệu. Đồng thời, Quang
Quý cũng nói lên tinh thần vị tha cao độ của một y sĩ có lương tâm chức nghiệp,
yêu nghề, tin nơi nghề và được nghề đãi ngộ xứng đáng, lấy việc cứu người làm lẽ
sống cao cả, ít quan tâm đến khía cạnh tiền bạc của nghề thuốc. Thiên Quan, Thiên
Phúc nói lên xu hướng xã hội của y sĩ. Với 4 sao này, y sĩ hay bố thí, cứu người
không lấy tiền, làm việc với sự tận tâm và vị tha nhờ đó mà được nổi danh. Tả
Phù, Hữu Bật trong cách y sĩ cũng có nhiều ý nghĩa cứu độ làm phúc nhưng thông
thường, hai sao này nặng ý nghĩa đắc thời, có sự nghiệp y dược lớn, cụ thể như
có bệnh viện riêng, được bác sỹ, y tá trợ giúp.

Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần: có hiệu lực hóa giải bệnh tật. Người có bệnh gặp ba sao
này thì mau hết bệnh vì gặp thầy, gặp thuốc còn y sĩ có ba sao này thì cứu mạng
và chữa trị rất công hiệu cho bệnh nhân.

+ Về năng khiếu chuyên khoa:

– Những chuyên khoa có
tính kỹ thuật do những sao dưới đây biểu diễn:

Thái Âm, Thái Dương: bác sỹ chiếu điện hay chụp hình hoặc là sử dụng các phương
pháp chữa trị băng điện, bằng quang tuyến hay tia phóng xạ.

Thiếu Âm, Thiếu Dương: tương tự như trên nhưng yếu tố âm dương cực nhỏ cho nên
đồng hóa với điện tử.

Thiên Hình, Kiếp Sát: bác sỹ giải phẫu, chắp vá, thay thế bộ phận thiên nhiên
bằng bộ phận nhân tạo.

– Những chuyên khoa
trong cơ thể bao gồm các ngành đặc biệt dưới đây:

Thái Âm, Thái Dương: hai mắt và là bộ thần kinh đồng thời cũng là tâm linh
con người.

Tuế Phá: chỉ bộ
răng – bác sĩ nha khoa

Phượng Các, Long Trì, Phá Toái: bác sĩ Tai-Mũi-Họng

Mộc Dục, Thai hay Đào Hoa, Hồng Loan: bác sỹ phụ khoa, sản khoa.

Hỷ Thần: chuyên về
trĩ

Thiên Riêu, Kình Dương: chuyên khoa sinh dục nam

Bạch Hổ, Địa Kiếp: bệnh ung thư

Thiên Hình, Kiếp Sát: bác sĩ châm cứu

Đào Hoa, Hồng Loan, Hoa Cái: chuyên khoa thẩm mỹ, chuyên sửa sắc đẹp

Thiên Mã hay Kình Dương, Đà La: ngành chỉnh hình.

Nếu không có chuyên khoa
mà có Hóa Kỵ thì là bác sĩ trị liệu tổng quát.

Nếu có thêm Thái Tuế,
Lưu Hà, Hóa Khoa, Văn Xương, Văn Khúc thì có dạy và sáng tác về y khoa. Nếu có
thêm Khôi, Việt thì trong ngành chuyên môn, đương số rất nổi danh.

e. Ngành kiến trúc:

Long Trì, Phượng Các – Thái Âm: Long, Phượng chỉ nhà cửa và cảnh trí trong nhà, trong
vườn. Thái Âm chỉ bất động sản.

Tấu Thư, Hồng Loan: chỉ hoa tay hay năng khiếu mỹ thuật, mỹ nghệ nói chung,
thích hợp cho người vẽ kiểu nhà, kiểu lăng tẩm, dinh thự.

4. Những nghề liên quan đến
nghệ thuật:
bất luận
nghề nào cũng phải có
Tấu Thư hoặc Hồng Loan hoặc Thiên Cơ. Nếu không,
đó chỉ là một sự hiểu biết hay sở thích chứ không phải nghề.

a. Nghề nhạc: phải có đủ
3 sao:
Tấu
Thư
(chỉ sự linh mẫn, tế nhị
và cả ngón cần thiết),
Hóa Lộc (nghệ thuật,
sự sành điệu, biết chơi, biết thưởng thức, biết ứng dụng) và
Phượng Các (lỗ tai hay thính giác). Với 3 sao này, đương số sẽ
là nhạc sĩ, sống về âm nhạc hoặc là chuyên viên âm thanh trong kịch trường hoặc
phim trường. Nếu có thêm sao khoa giáp thì đương số sẽ là giáo sư âm nhạc hay
nhà khảo cứu về âm nhạc, âm thanh.

b. Nghề họa: Ngoài Tấu Thư hoặc Thiên Cơ, đương số
phải có sao
Hồng Loan chỉ hoa
tay. Nếu có thêm
Long Trì, Phượng Các cũng được.

c. Nghề nữ công: Ngoài Tấu Thư, Hồng Loan hay Thiên Cơ, phải có Kiếp Sát hay Thiên Hình (thêu,
may, cắt và vẽ kiểu áo thời trang, chế mốt thời trang …)

d. Nghề nấu ăn: Ngoài Hóa Lộc, Tấu Thư, Hồng Loan còn phải có Long Trì hay Hóa Kỵ và Thiên Trù.

e. Nghề kịch: các sao của
nghề nhạc, nghề họa đều có thể ứng dụng cho nghề kịch. Nếu có thêm
Đào Hoa, Vũ Khúc, Thiên
Hỷ, Hỷ Thần
thì càng
hay. Nghề kịch chỉ hiển vinh nếu các sao đắc địa và có thêm
Văn Xương, Văn Khúc hay Thái Âm sáng sủa. Nếu có thêm Thiên Khôi, Thiên Việt thì xuất chúng.

f. Nghề ca: ngoài các
sao của nghề kịch, phải có
Phá Toái hay Phượng Các.

g. Nghề vũ: có sao của
nghề kịch là đủ. Nếu có thêm
Thiên Mã thì rõ
ràng hơn nhưng phải có sao
Hoa Cái (làm dáng,
sự quyến rũ bằng điệu bộ kiểu cách).

CÁCH QUÝ – NHỮNG SAO LÀM
QUAN

1. Các chính tinh có nghĩa
quan lộc trực tiếp:

Tử Vi: Tử Vi đắc
địa ở cung Quan có nghĩa quyền quý. Tử Vi chỉ người có dịp chỉ huy, điều khiển,
giữ những chức vụ quan trọng trong công quyền, có nhiều thuộc hạ cao cấpl có
tài lãnh đạo, có bản lãnh chế phục người khác. Ngôi thứ quan lộc cao thấp tùy
thuộc vị trí miếu địa hay đắc địa: càng đắc địa thì ngạch trật càng cao. Nếu Tử
Vi được nhiều quyền tinh, dũng tinh đi kèm thì chức quyền càng lớn, có nhiều
thuộc hạ đông đảo trợ lực. Nếu thiếu trợ tinh, Tử Vi chỉ loại viên chức hay sĩ
quan cao cấp làm việc tham mưu, phục vụ trong ngành chuyên môn, ít có dịp cầm
quyền, cầm quân, hoặc nếu có, thì chỉ điều khiển một số thuộc hạ giới hạn và thời
gian chỉ huy không lâu.

Thái Dương: Nam số có
Thái Dương sáng sủa ở Quan lộc đều quý hiển, cụ thể là có phẩm trật cao, có chức
vụ lớn, thành công trong sự nghiệp nhờ sự thông minh, tài năng và đạo đức của
mình. Thông thường, Thái Dương chỉ ngành văn hơn là ngành võ.

Liêm Trinh: đắc địa trở
lên chủ về quan lộc, giống như Thái Dương, cho nên tọa thủ ở Quan lộc rất hợp vị.
Liêm Trinh chủ yếu chỉ về võ nghiệp nhưng cũng có khi kiêm nhiệm cả chính trị nếu
đóng ở hai cung Dần và Thân. Cái hay của Liêm về quan lộc bắt nguồn trước hết từ
khả năng toàn diện đó. Trong cả hai ngành đều sáng chói, hiển đạt trong thời
bình lẫn thời chiến, nhờ ở tài thao lược, khả năng thích ứng với nhiều hoàn cảnh.
Ngoài ra, Liêm Trinh đắc địa ở Dần và Thân còn ban cho san này những điều kiện
tốt đẹp để thành công: sự liêm khiết, thẳng thắn, mực thước, rất trong sạch, có
đạo đức, không chịu làm điều trái phép, trái lương tâm chức nghiệp.

Nếu Liêm Trinh đi với
Thiên Tướng thì sự chính trực càng nổi bật. Liêm Trinh hãm địa ở Quan báo hiệu
chức vụ nhỏ, thấp, thường gặp hung sự trong công vụ, đặc biệt là hình tù.

Thiên Tướng: sao này là
quyền tinh, dũng tinh, thích hợp với ngành võ. Càng đắc địa (ở Thìn, Tuất, Tý,
Ngọ, Dần, Thân Sửu, Mùi, Tỵ và Hợi), công danh càng sáng chói. Thiên Tướng là
người đảm đang, tháo vát, có chí khí lớn, nhất là có ý thức công bằng, bình đẳng
rất cao, có hoài bão mang trật tự xã hội. Nếu Thiên Tướng đi kèm với Tử Vi ở
cung Quan đó là người có tài lãnh đạo, có tài thừa hành, dám làm dám quyết, có
khí phách hơn người, có hoài bão cao xa. Tuy nhiên, cặp sao này nói lên tính tự
phụ và khuynh hướng á quyền (do sao Tử Vi). Tử Tướng đồng cung có tài và có tham
vọng lãnh đạo chỉ huy. Nếu Thiên Tướng được Tướng Quân xung chiếu hay ngược lại
thì rất hiển đạt trong võ nghiệp.

Thất Sát: ở Quan là
quân nhân, đặc biệt thích hợp với quân nhân cầm binh xuất trận đi tiên phong,
nghênh địch ở vùng hỏa tuyến. Sao này không thích hợp với trách nhiệm phòng thủ
hậu phương và không đắc dụng ở ngành tham mưu, nhất là hành chính, chính trị.
Đi với Hóa Quyền, là loại sĩ quan có binh lính dưới trướng, có khả năng tác chiến
cao, lập được nhiều chiến công trên trận địa.

Thiên Phủ: là quyền
tinh, chỉ cách làm quan văn đồng thời là nghề liên hệ đến tài chính. Nếu Phủ ở
miếu và vượng địa, chức vụ tài chính sẽ cao hơn ở đắc địa. Nếu có thêm phụ tinh
tốt, nhất là trợ tinh và tài tinh, đương số có thể là người đứng đầu cơ quan
tài chính. Bằng không, sẽ có nghĩa là tiền bạc, giàu có hơn các đồng nghiệp
khác.

2. Những chính tinh có
nghĩa quan lộc gián tiếp

Vũ Khúc: Đắc quý
cách ở Thìn Tuất Sửu Mùi (miếu địa), Dần Thân Tỵ Ngọ (vượng địa) và Mão Dậu (đắc
địa). Trong trường hợp này, Vũ chỉ võ nghiệp đặc biệt nếu đi cùng với các sao
võ như Tướng, Sát, Phá, Tham. Đi với Văn Khúc thì có tài về cả văn lẫn võ. Vũ
là người có chí lớn, có tài thao lược, tính toán giỏi, dám mưu đại sự, lại can
đảm, quả cảm. Đây là ngôi sao tham mưu, đánh giặc bằng mưu lược nhiều hơn là bằng
binh đao và hỏa lực. Nếu Vũ đi cùng với Tướng hay Sát thì sĩ quan đó kiêm cả
tham mưu lẫn tác chiến, và có dũng vừa có mưu. Nếu hãm địa, năng tài của Vũ
Khúc bị phai mờ, hoặc kém cỏi, hoặc không có chỗ dụng, hoặc thất bại. Trong trường
hợp đơn thủ hoặc đồng cung với Phủ, Vũ Khúc làm quan văn, coi về ngành kinh tế
rất đắc dụng. Đó là người có tài kinh doanh mang lợi lộc cho quốc gia, vận dụng
tiền bạc giỏi, biết bắt mạch và khai thác cơ hội. Trong bất cứ trường hợp đắc địa
nào, Vũ cũng là người có tiền bạc dư dả.

Tham Lang: Trừ phi miếu
địa ở Thìn Tuất, Tham Lang tầm thường, có thể nói là bất tài, hám lợi. Ngay
trong trường hợp đắc dụng, sĩ quan có Tham Lang ở Quan có nhiều nét xấu: từ hiếu
thắng, tự phụ cho đến tính hình thức, ham vui, bê trễ và nhất là lòng tham dưới
nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, nếu Tham miếu địa đi với Linh hay Hỏa miếu địa thì
lại rất hay cho võ nghiệp.

Phá Quân: Quan có
Phá miếu (ở Tý, Ngọ), vượng (ở Sửu Mùi), đắc địa (ở Thìn, Tuất) thì can đảm, hoạt
động nhưng hiếu thắng, tự kiêu, mưu cơ, gian trá và nhất là bất nhân. Bản chất
của Phá Quân ở Quan là không được trung tín, hay lấn lướt người trên. Trong trường
hợp hãm địa, quan cách của Phá Quân rất tầm thường, hay gặp tai nạn khó thoát,
hay hại người và bị người hại.

Thái Âm: là phú
tinh, chỉ điền trạch. Nếu sáng sủa, cũng có quan cách nhưng không rực rỡ bằng
Thái Dương. Tuy nhiên, người tuổi Âm, sinh ban đêm, lúc trăng lên có Thái Âm
sáng sủa ở Quan thì quý cách rực rỡ hơn người tuổi Dương, sinh ban ngày. Nếu có
thêm trợ tinh thì càng sáng lạng: đó là trường hợp người sớm phát đạt, toại ý,
vừa có danh, vừa có lợi. Nếu là tuổi Dương, sinh ban ngày thì công danh có ít,
lợi lộc nhiều hơn. Thái Âm chỉ cách làm quan văn. Nếu hãm địa, quan cách tầm
thường, chậm phát, thường gặp những hoàn cảnh không toại ý, thiếu cơ hội thi thố
tài năng. Nếu Âm Dương đồng cung ở Sửu Mùi thì có lộc nhưng không quý hiển. Muốn
đắc quý, phải có Tuần, Triệt án ngữ hay Hóa Kỵ đồng cung.

Thiên Đồng: chỉ có ý
nghĩa quan lộc nếu đắc địa trở lên. Thông thường, sao này chỉ quan cách nhưng
riêng ở Mão thì văn võ kiêm toàn. Đồng chỉ thực sự quý hiển nếu ở cung Tý, cung
Dần và cung Thân. Trong mọi trường hợp, Đồng chỉ loại viên chức làm việc lưu động,
thường hay đổi công việc, cụ thể như thanh tra, đại sứ, liên lạc viên, giao
liên hoặc gặp hoàn cảnh phải đổi nghề, đổi chỗ làm tương đối mau chóng. Nếu đồng
cung với Thiên Lương, Đồng rất xuất sắc trong các ngành chính trị, y khoa, sư
phạm. Đồng cung với Nguyệt ở Tý, Đồng cũng lỗi lạc. Nếu hãm địa, quan cách nhỏ
thấp, thăng giáng thất thường và bất đắc chí trong nghề nghiệp.

Thiên Lương: là cách
quan văn. Đắc địa trở lên, Lương là người có tài mưu sĩ, cố vấn, khuyến cáo đường
lối chiến lược, chính sách, đặc biệt khi đóng ở Thìn Tuất (đồng cung với Thiên
Cơ) hay ở Mão (đồng cung với Thái Dương). Tại những vị trí này, Lương là người
hay tìm tòi, hiếu học, có khả năng nghiên cứu và thiết kế các chương trình lớn,
rất thích hợp với công việc tham mưu. Nếu có thêm các sao khoa bảng thì công
danh rất sáng chói, được ở cạnh chức quyền cao cấp. Nếu Lương ở Sửu Mùi thì
quan cách tầm thường còn hãm địa ở Tỵ Hợi thì chức vị càng thấp, tính tình
phóng đãng, hay thay đổi chí hướng, ưa phiêu lưu, không toại chí, phải bôn ba lưu
lạc, tha phương cầu thực. Trường hợp đồng cung với Nhật ở Dậu cũng có ý nghĩa
tương tự.

Cự Môn: Miếu, vượng
và đắc địa, sao này chỉ quan văn, đặc biệt là chính trị gia hay luật gia hoặc
nhà ngoại giao. Sao này rất thích hợp cho quan tòa, trạng sư, giáo sư, dân biểu,
nghị sĩ, những người có học lực uyên bác, năng khiếu hùng biện, thiên về chính
trị. Viên chức có Cự Môn sáng sủa thường có hoài bão cải tạo xã hội, có ý chí muốn
làm việc lớn, có xu hướng chính trị cấp tiến, muốn thay đổi hoàn cảnh chứ không
bảo thủ, chấp nê hiện trạng. Do đó, Cự Môn đắc địa thường là người bất mãn hiện
tại, nhưng lại không chịu thúc thủ chờ thời, trái lại muốn đóng góp để tạo thời
thế. Chỉ khi nào hãm địa, Cự Môn mới là người bất đắc chí, bất mãn mà bất lực, thường
bị tụng ngục, kìm hãm không hoạt động được. Đi chung với Thiên Cơ ở Mão Dậu, đi
chung với Thái

Dương ở Dần Thân thì
quan chức cao, có cả phú lẫn quý cách. Nếu hãm địa ở Tỵ thì quan chức nhỏ, ở Hợi
thì có cao vọng, thường bất mãn; ở Thìn Tuất tuy có tài và có chức phận trong hậu
vận nhưng thường gặp thị phi, đố kỵ, cạnh tranh, gièm xiểm.

Thiên Cơ: là kỹ
năng, kỹ thuật, sự tinh xảo trong ngành chuyên môn, đặc biệt là máy móc. Nghề của
Thiên Cơ có thể là kỹ sư, kỹ nghệ. Ngoài ra, Cơ trong bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương
chỉ nghề công chức, quan lại, cụ thể là ngành y khoa hay dược khoa. Đồng cung với
Cự Môn ở Mão Dậu, đồng cung với Thiên Lương ở Thìn Tuất, Thiên Cơ là viên chức
tham mưu, giỏi về kế hoạch, chính sách, chiến lược. Tại bất cứ vị trí đắc địa
nào, Cơ cũng là viên chức khéo léo, tinh xảo, tinh thục, có lương tâm chức nghiệp
cao.

3. Những phụ tinh có ý
nghĩa quan lộc:

a. Phụ tinh chỉ quyền uy, chức phận:

Hóa Quyền: biểu tượng
cho quyền hành và thế lực, đặc biệt nếu đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Nếu
bình thường hoặc hãm địa (ở Tý, Ngọ, Thân, Dậu, Hợi) thì quyền không cao, không
nhiều, không quan trọng, hoặc chỉ có hư quyền hoặc quyền chỉ có trong bóng tối
hoặc có thế lực mà không có quyền hoặc quyền tước hàm. Hóa Quyền có nhiều địa hạt:
võ quyền, văn quyền, giáo quyền tùy theo cách làm quan nhưng cách nào có Quyền cũng
đều hiển hách. Nếu đi với Hóa Kỵ trong bối cảnh cung Quan tốt đẹp thì hai sao này
chỉ người có quyền và có mưu, hết sức quyền biến, không ngoan nhưng do có Kỵ
nên thường bị người ta e ngại. Nếu đi với Kiếp Không ở Tỵ Hợi, Quyền càng phát
nhanh và phát lớn do sự đưa đẩy của thời thế để tạo ra anh hùng nhưng vì có Kiếp
Không nên có thể không lâu bền. Thông thường, người có Hóa Quyền hay tự đắc, tự
tôn, kiêu căng, lấn lướt, hiếu thắng cho nên sao này tuy có lợi cho công danh
nhưng không mấy hay về tính nết. Phải có thêm các sao đức hạnh thì Quyền mới hướng
thiện. Nếu gặp hung tinh, vận xấu, Hóa Quyền tác họa cấp kỳ cho đương số. Hóa Quyền
ở Quan tượng trưng cho sự tham chính, cho cách làm quan hiển đạt, đặc biệt là
khi đi với Khoa và Lộc.

Quốc ấn: chỉ người
có chính chức và có quyền vị. ý nghĩa của ấn giống như Quyền nhưng không mạnh bằng.
Nếu ấn đi chung với Binh, Hình, Tướng thì võ nghiệp rất vinh hiển: đó là quân
nhân có binh, có quyền, có uy. Người có ấn ở Quan là viên chức có công, được
thưởng công bằng sự thăng chức, thăng trật, hoặc bằng sắc phong huy chương, tưởng
lục. Nếu ấn ở vị trí các cung ban đêm, có thể là sự khen ngợi thông thường,
cũng có thể là sự truy tặng (sau khi chết). Dù sao, Quốc ấn ở Quan, Mệnh, Thân
là người dễ tiến đạt, được trọng vọng, được ghi công trên đường hoan lộ.

Long, Phượng, Hổ, Cái (tứ linh): là quý cách khá cao, do những biểu tượng đi kèm.

Thanh Long, Long Đức ở Thìn: tượng trưng cho quyền tước, tài năng được dùng đúng chỗ.

Phong Cáo, Thai Phụ, Đường Phù: chỉ bằng sắc, công trạng, huy chương, quyền hành nhưng
không mạnh bằng Quyền hay ấn. Đường Phù có nghĩa kém nhất.

Tiền Cái hậu Mã: cung Quan trước giáp Hoa Cái sau giáp Thiên Mã là một
biểu tượng của quyền uy, có lọng (Cái), có ngựa (Mã) theo chầu. Duy cách này
nên đóng ở cung ban ngày mới rạng.

Quan Đới: biểu tượng
cho chức vị, quyền hành (là cái đai). Chức quyền có thể cao.

Bạch Hổ, Tấu Thư: hai sao này họp thành cách hổi đội hòm sắt, cũng khá
tốt cho công danh. Ngụ ý được tín nhiệm, trọng dụng, nhất là đồng cung và ở
cung Dần (hổ cư hổ vị).

Bạch Hổ, Phi Liêm ở Dần: chỉ công danh thăng tiến dễ dàng, nhất là ngành võ.

Tướng Quân: chỉ cách
làm quan võ có cầm quân nhưng thuộc loại thấp, chỉ huy đơn vị nhỏ. Nếu đi cùng
với Thiên Tướng là võ quan cao cấp và có nắm quyền chỉ huy. Cách quan của Tướng
Quân tuy có can đảm, hiên ngang nhưng táo bạo, có tinh thần sứ quân, tự tôn, tự
phụ, sử dụng binh quyền đôi khi sai mục đích nên Tướng Quân gặp sao xấu dễ bị
nguy kịch. Đi với cát tinh, Tướng Quân rất đắc dụng: đó là viên chức hay quân
nhân rất tháo vát, có tinh thần xung phong, tình nguyện làm việc khó, có sáng
kiến, đôi khi có quá nhiều sáng kiến nên đi sai lệch đường lối ở trên. Đi với
Thiên Tướng, nhất là ở thế xung chiếu thì rất hiển hách trong binh nghiệp.

b. Phụ tinh chỉ tài năng tổng quát:

Thiên Mã: ngụ ý tháo
vát, may mắn, đa năng, thao lược, xông pha. Người có Thiên Mã ở Quan hay Mệnh thường
nhậm lẹ, lanh lợi, lăn lóc, từng trải nên đa hiệu, đa nhiệm. Đây là bộ sao rất cần
cho công danh, rất lợi và rất hợp với các công việc có tính lưu động. Vì đa hiệu,
Mã là sao có rất nhiều phối cách rất hay với một số phụ tinh khác để làm cho
năng tài đắc dụng hơn. Ví dụ như cách Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt, Mã Lộc Tồn, Mã
Hỏa hay Linh, Mã Tướng, Mã Khốc Khách. Mặt khác, cách hay trên còn tùy vị trí của
Thiên Mã. Nếu ở Dần (Mộc) và Tỵ (Hỏa) thì tốt đẹp thêm, ở Thân (Kim) thì vất vả,
còn ở Hợi (Thủy) thì lu mờ. Tốt khi Mã ở Dần (Mộc) mà Bản Mệnh thuộc Mộc, Mã ở
Tỵ (Hỏa) với Hỏa Mệnh, Mã ở Thân (Kim) với Kim Mệnh, Mã ở Hợi với (Thủy Mệnh).
Bao giờ gặp nghịch khắc giữa hai hành thì kém hoặc xấu: tài năng sút kém, trở
ngại gia tăng, công danh không rạng.

Lộc Tồn: chỉ tài
năng, đặc biệt là tài tổ chức, tài thích ứng với hoàn cảnh. Lộc Tồn có nhiều
sáng kiến, biết tùy theo nhu cầu mà quyền biến, xử sự tùy hoàn cảnh, lúc cương
lúc nhu, một cách chừng mực. Đi với Thiên Mã, Lộc Tồn là người khai sơn phá thạch,
mở đường cho kẻ khác đi theo, rất đắc dụng trong các trách nhiệm tiền phong, khai
quang an vị, tổ chức cơ sở. Đặc biệt, sao này chỉ về tiền bạc nên rất lợi cho
nhà kinh doanh khai thác tài nguyên kinh tế, tổ chức nền móng sản xuất. Đi với
Hóa Lộc, Lộc Tồn chuyên đoán, có óc lãnh tụ, độc quyền và tập quyền. Gặp Tuần,
Triệt hay sát tinh đồng cung, Lộc Tồn mất nhiều cơ hội hoạt động, bị khiếm dụng,
bị dùng phí phạm, bị dùng không đúng chỗ, tài năng bị tiêu mòn hoặc bị dùng vào
việc sái đạo đức. Trong lãnh vực tài chính, sao này chỉ sự tiết kiệm, xài kỹ,
xài có quy tắc, sự chắt mót, giữ của, có lợi cho các chức vụ quản trị ngân
sách.

Thiên Khôi, Thiên Việt: Miễn là đừng gặp Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ, Khôi Việt chỉ
năng tài xuất chúng, uy tín và hậu thuẫn, phần lớn nhờ ở tài văn học, mô phạm,
tính tình cao thượng, thanh khiết, tinh thần cạnh tranh và thi đua.

Bạch Hổ, Tang Môn đắc địa ở Dần: chỉ sự tài giỏi, quyền biến, thao lược, ứng phó được nhiều
nghịch cảnh, đồng thời cũng có khả năng xét đoán, lý luận, hùng biện phù hợp với
các chức vị chính trị, ngoại giao, tư pháp, sư phạm. Ngoài ra Tang Hổ đắc địa
còn có khả năng về võ, có khí phách lãnh đạo, chỉ huy nhất là khi được sao võ đi
kèm. Do đó, Tang Hổ đặc biệt là Hổ có nhiều phối cách rất hay với Tấu Thư, với Phi
Liêm, với Long Phượng Cái, với Kình Hình. Với Tấu Thư, Bạch Hổ chỉ năng tài
hùng biện rất khích động, xuất sắc về tâm lý chiến, vận động quần chúng. Với
Phi Liêm, Bạch Hổ rất tháo vát, lanh lợi như Thiên Mã lại được thời cơ thuận lợi.
Với Kình hay Hình, Bạch Hổ có chí khí, mưu lược cả văn lẫn võ. Với Long Phượng Cái,
Bạch Hổ chỉ sự hiển đạt về uy danh, sự nghiệp, khoa giáp.

Thiên Khốc, Thiên Hư đắc địa ở Tý, Ngọ: chỉ người có chí lớn, có văn tài hùng biện cùng năng khiếu
hoạt động chính trị, đặc biệt là về hậu vận. Khốc Hình Mã thì hiển đạt võ nghiệp,
nhất là ở Dần và Tỵ. Khốc Hư Sát hay Phá đắc địa thì có quyền cao chức trọng,
uy danh lừng lẫy, được thiên hạ nể phục.

c. Phụ tinh chỉ thời thế, hoàn cảnh:

Ân Quang, Thiên Quý: Đóng ở Mệnh, Quan, Thân, Di viên chức được tín nhiệm,
trong dụng nâng đỡ, che chở của người trên. Ngoài ra, Quang Quý có nghĩa là
viên chức đó trung tín, hết lòng, có lương tâm chức nghiệp, xứng đáng với sự
tín nhiệm của thượng cấp dành cho. Quang Quý có nghĩa gặp nhiều dịp may trong
hoạn lộ, cụ thể như được thời thế thích hợp, được sử dụng đúng năng khiếu, làm việc
vừa ý, được hạnh phúc trong nghề nghiệp.

Thanh Long, Lưu Hà hay Hóa Kỵ đồng cung: có vận may tốt, cơ may lớn để ra làm quan, không cần cầu
cạnh và lúc ra làm quan thì đắc dụng, đắc thời theo ba ý nghĩa nêu trên của
Quang Quý. Ngoài ra, Thanh Long gặp Long Đức ở Thìn cũng rất tốt đẹp vì rồng
đóng ở cung Thìn chỉ đắc danh, đắc lộc mà không cần cầu cạnh, được nhiều may mắn
trên hoạn lộ.

Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự phong phú; áp dụng vào quan trường, công danh sẽ
dồi dào, năng tài đa diện trong nhiều lĩnh vực, chức quyền tương đối cao. Người
có Sinh, Vượng ở Quan có nhiều sáng kiến trong công vụ, được giao phó nhiều
trách nhiệm, dễ thăng tiến.

Thiên Mã, Tràng Sinh: gặp vận hội tốt, có ý nghĩa giống như hai bộ sao Thanh
Long Hóa Kỵ và Thanh Long Lưu Hà. Cách này có ý nghĩa tiền bạc, cụ thể là đắc lợi
trong quan trường. Nếu ở cung Hợi thì kém hay.

Phi Liêm, Bạch Hổ: gọi là hổ mọc cánh, rất tốt ở cung Dần, tượng trưng
cho thời vận đang lên, sự may mắn đặc biệt, sự thăng chức, thăng cấp dễ dàng.

Đào Hoa, Hồng Loan: ở Quan, Đào Hoa và Hồng Loan rất hợp cách: chỉ làm quan
lúc tuổi trẻ, tuổi trẻ tài cao, công danh tảo đạt, nhẹ bước thang mây, không phải
bôn ba cầu cạnh.

d. Phụ tinh chỉ nhân sự trợ giúp:

Tả Phù, Hữu Bật: chủ sự giúp đỡ của người đời, đặc biệt là đồng sự, đồng
song. Người có Tả Hữu ở Quan có tài giao tế nhân sự, có đức tính khéo léo thu
được thiện cảm của người trên, có sự mềm mỏng cần thiết để được người ngang
hàng cộng lực. Ngoài ra, cũng có nghĩa là quyền tước hiển vinh, nhờ có nhiều người
phục tùng. Tả thuộc văn tinh nên hợp với Tử Phủ, Hữu chiếu vào Tử Phủ thì tốt
hơn đồng cung. Trong cả hai trường hợp, Tả Hữu không nên đi chung với sát tinh.
Tả Hữu còn có nghĩa là đa nghệ, là hệ số của tài năng, của quyền hành.

Thiên Quan, Thiên Phúc: chỉ sự giúp đỡ của ân nhân, bạn bè, cảm tình viên, cổ
động viên …

Tướng Quân, Phá Quân, Phục Binh: nếu cung Quan có Thiên Tướng mà được thêm ba sao này hội
tụ thì sẽ tăng thêm uy quyền cho Thiên Tướng có có nghĩa như tướng có quân, cầm
quân.

Thiên Mã, Tràng Sinh, Đế Vượng: là bộ sao phụ tùy cho quan cách.

Binh, Hình, Tướng, ấn: chỉ cộng sự đắc lực và có quyền, trợ uy cho võ cách.

Ân Quang, Thiên Quý: chỉ ân sủng của thượng cấp và sự hậu thuẫn trung kiên
và lâu bền của thuộc hạ.

4. Sát, hung tinh trong quan
cách:

a. Những loại võ cách:

Hung sát tinh đắc địa gặp Sát Phá Liêm Tham đắc địa hay
Vũ Tướng đắc địa:
báo hiệu sự
hiển đạt của võ nghiệp trong thời loạn, nhờ đức tính táo bạo, mạo hiểm, bất khuất
trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn. Bộ sao này có cả phú lẫn quý, tức là vừa
có danh vừa có lợi. Nhưng công danh không được lâu bền, phát nhanh nhưng cũng
tàn lẹ. Gặp bộ Vũ Tướng đắc địa thì toàn mỹ về cả công danh lẫn tiền bạc trong
suốt thời gian sinh tiền, không bị ảnh hưởng của sự thăng trầm, hoạch phá. Nếu
hai bộ này hãm địa, sát tinh dù có đắc địa cũng không quân bình được bất lợi: công
danh nhỏ, chức vụ thấp, thăng giáng thất thường.

Hung sát tinh hãm gặp Sát Phá Liêm Tham hãm hoặc Vũ Tướng
hãm:
giảm chế công danh khiến
quân nhân khó thăng tiến, trở thành bất đắc chí, càng tung hoành càng gặp hung
họa lớn lao. Nếu bốn sao chính mà sáng sủa thì quan cách tương đối cao hơn,
nhưng thiếu thuộc hạ đắc lực vì hung sát tinh hãm địa, thậm chí còn gây họa cho
chính mình. Gặp Vũ Tướng hãm địa thì cũng dưới mức trung bình và gặp nhiều hung
họa. Trái lại nếu Vũ Tướng đắc địa thì rất hay: chẳng những có uy danh mà còn
khắc phục được trở ngại và những âm mưu bất chính của đối thủ.

b. Hung sát tinh với Tử Phủ Cự Nhật và Cơ Nguyệt Đồng
Lương (văn cách):
văn cách
trong mỗi bộ sao này phải né tránh sát tinh thì mới hiển đạt. Gặp sát tinh,
quan trường phải cạnh tranh, đối chọi, đấu trí, gian nan, chưa kể những hung họa
hiểm nghèo khả hữu. Để thắng những sát tinh đó thì mỗi sao trong bộ phải đắc địa
trở lên.

Nếu chính tinh trong mỗi
bộ sao mà hãm địa nốt thì quan cách chẳng những không ra gì mà còn gặp nhiều hiểm
nguy đến bổn mạng.

c. Đặc điểm của hung sát tinh trong võ cách:

Địa Không, Địa Kiếp: chỉ khi nào đắc địa mới lợi cho công danh trong khuôn
khổ võ cách. Không Kiếp giúp bộc phát rất nhanh, đặc biệt là trong thời loạn.
Dù sao, võ nghiệp của Không Kiếp hết sức cực nhọc, khó khăn và nguy hiểm, phải
đương đầu với nhiều địch thủ lợi hại trong môi trường đầy nguy hiểm. Tuy nhiên,
Kiếp Không dù đắc địa cũng thăng trầm, chỉ giúp võ nghiệp hiển đạt một thời mà
thôi. Trong giai đoạn hiển đạt, nếu Kiếp Không đắc địa được trợ lực bởi các sao
khác, cụ thể như Tướng Quân, Thiên Mã hay Binh, Hình, Tướng, ấn thì quan cách
thêm hiển hách. Thiếu những trợ tinh này, Kiếp Không đắc địa chỉ một tài năng
cô độc. Mặc dù Kiếp Không đắc địa tương hợp với cách Sát Phá Liêm Tham đắc địa
nhưng sự hoạnh phát không tránh được cảnh hoạnh tán: con người tuy có võ chức
cao, có thành công lớn nhưng vẫn dễ bị phá sản trong một giai đoạn nào đó. Chỉ
trừ phi đi chung với Vũ Tướng đắc địa thì quan toàn mỹ (rất hiếm). Nếu hãm địa,
Kiếp Không chẳng những vất vả gian truân mà còn bất đắc chí và thường gặp hung
sự hiểm nghèo, có hại đến tính mệnh hoặc bị bệnh tật nặng nề, tai họa về binh lửa.
Có ba biệt lệ tốt đẹp cho trường hợp hãm địa: i) Không Kiếp hãm đi chung với Vũ
Tướng đắc địa: trở lực nhiều nhưng con người khắc phục được, có công danh sự
nghiệp lớn; ii) Không Kiếp hãm gặp Tử Phủ sáng sủa, Cự Nhật hay Cơ Nguyệt Đồng
Lương đắc địa: tài quan tuy lớn lao nhưng có nhiều bất trắc, vất vả, gian
truân, chỉ được sự hậu thuẫn của người trên mà ít được sự trợ giúp của kẻ dưới;
iii) Không Kiếp hãm gặp Sát Phá Liêm Tham đắc địa: công danh cao nhưng người
còn bất đắc chí, được người trên giúp đỡ nhưng thiếu nhân sự ở dưới trợ lực, phần
lớn hạ cấp đều bất tài, tham nhũng, sát chủ.

Kình Dương, Đà La: chỉ hay khi hai sao này miếu địa: Kình ở Thìn Tuất Sửu
Mùi, Đà thì đắc địa thêm ở Tý và Hợi. Kình Đà nếu đắc địa thì cương nghị, quả cảm,
khí phách, cơ mưu, thủ đoạn, có tinh thần bất khuất, có tài và đắc dụng. Nếu được
thêm Hỏa, Linh đắc địa hội tụ thì rất khét tiếng trong binh nghiệp, có khả năng
chế phục địch quân. Được Tướng Quân, Thiên Mã, Khoa, Quyền, Lộc thì quan cách hết
sức lẫy lừng, thường bách chiến bách thắng. Nếu gặp hung tinh như Không, Kiếp,
Hình, Kỵ thì cũng tài giỏi nhưng phải gặp nhiều thăng trầm, hung họa lớn lao,
chết thảm. Nếu hãm địa, Kình Đà là người rất bướng bỉnh, ngoan cố, ngỗ ngược,
liều lĩnh và gian trá do đó tai họa dễ xảy đến từ hình tù cho đến thương phế và
chết thảm. Kình Đà hãm ở Quan tượng trưng cho trở lực, khó khăn gặp phải, sự
gian nan cơ cực và hiểm nghèo của công tác, có làm mà không được hưởng, chung quy
dễ gặp nạn. Riêng sao Kình ở Ngọ thì rất hung hiểm, dễ chết bất đắc, trừ phi được
cát tinh như Tướng, Mã, Khoa, Quyền, Lộc hội tụ mới hiển đạt. Nếu Kình (đắc hay
hãm địa) đi chung với Lực Sỹ thì người đó khó tiến đạt, bị bỏ quên, bị đè nén.
Đắc địa thì có tài mà không được biết hoặc biết mà không được dùng hoặc được dùng
mà bị kiềm tỏa. Hãm địa thì là hạng vô dụng, bị bỏ xó, ngồi chơi xơi nước. Riêng
Đà La ở Dần Thân, vô chính diệu thì đắc cách quý hiển cả về văn lẫn võ. Nếu bị
Tuần Triệt án ngữ thì sẽ mất hết cái hay. Trong mọi trường hợp Kình Đà hãm địa
mà bị thêm sát tinh khác hãm địa đi kèm thì hung họa, cơ cực không sao kể xiết:
nghèo thì trộm cướp, hình tù, khá thì bất nhân bất nghĩa, thông thường thì yểu
vong và chết không toàn thây.

Hỏa Tinh, Linh Tinh: Tính tình Hỏa Linh giống như Kình Đà. Nếu đắc địa (ở những
cung ban ngày), nhất là hội với Tham miếu địa, đều có tài năng, có chí khí, có
uy danh và thường hiển đạt trong binh nghiệp. Nếu hãm địa thì công danh trắc trở,
chậm lụt nhất là hay gặp tai nạn, thường phải bôn ba đâu đó. Có hai biệt lệ của
Hỏa Linh hãm địa sau: ở Sửu Mùi có Tham Vũ Việt đồng cung t hì võ cách hết sức
hiển hách nhất là về hậu vận nhưng kỵ hai sao Không Kiếp sẽ làm phá tán hết cái
hay; ở Hợi, đồng cung với Tuyệt có Tham Hình hội chiếu cũng rất vang danh trong
binh nghiệp.

Kiếp Sát: chỉ sự đa
sát, chém giết, gieo họa, hay xuống tay mạnh, thường dùng biện pháp cứng rắn, cực
đoan lúc xử thế, nóng tính, không chịu nổi những sự bất bằng, hay tầm thù. Kiếp
Sát là người lợi hại và nguy hiểm, có thể ví như hung đồ nên nếu ở Quan dễ gặp
ha và có nhiều kẻ thù. Đi với các sao hung khác rất dễ thành phiến loạn, cướp của
giết người, bất lương, vô loại.

Thiên Không: rất kỵ
cung Quan lộc vì tượng trưng cho sự cản trở. Có Thiên không, khó thăng tiến, chậm
thăng, thăng chật vật, thăng không cao, bị đè nén, kìm chế trong hoạn lộ. Thiên
Không ở Quan là người bất mãn, hay làm hỏng việc, giữ chức vụ gì lớn không bền
vững, lên thì chậm, xuống thì nhanh, quan trường hay bị đó kỵ, ganh ghét và
chính đương số cũng có bụng tiểu nhân, ganh hiềm, đâm thọt, xuyên tạc, phá
phách, gây chia rẽ, ly gián.

Phục Binh: ở Quan,
sao này chỉ sự đố kỵ, hãm hại bằng thủ đoạn ngầm, có khi đi đến chỗ phục kích,
ám sát để loại trừ địch thủ. Phục Binh có thể hoặc là nạn nhân của bọn tiểu
nhân, hoặc chính mình là tiểu nhân, hoặc vừa là nạn nhân vừa là tiểu nhân, do sự
trả đũa qua lại.

Hóa Kỵ: trước hết
có nghĩa đố kỵ, ganh tỵ, thấy người hơn mình thì không thích. Thủ đoạn của Hóa
Kỵ cũng bí mật, lén lút, thường là dùng miệng lưỡi để gièm pha, chỉ trích xuyên
tạc, vu khống. Do đó, Hóa Kỵ ở Quan tượng trưng cho thị phi, khẩu thiệt, vạ miệng.
Mặt khác, Hóa Kỵ hãm địa có nghĩa là nông nổi, xu thời, thiếu lập trường, ai mạnh
thì theo, dễ bỏ bạn bè để theo danh lợi. Trong trường hợp đắc địa (ở Thìn, Tuất,
Sửu và Mùi) thì là người có khuynh hướng cách mạng, muốn thay cũ đổi mới, ý
nghĩa tương đối hướng thượng, quan cách dễ thành công nếu được cát tinh hỗ trợ.

Thiên Hình: đắc địa ở
Dần, Thân, Mão, Dậu. Thiên Hình chuyên về quân sự, có dũng khí, có uy phong, có
tài cầm binh, thiên về sát phạt. Nếu là quan văn thường là thẩm phán, trạng sư,
có năng khiếu luật pháp, xét xử công minh. Nếu thêm Thiên Y đi kèm, có thể là
bác sĩ giải phẫu, châm cứu. Thiên Hình là người nóng tính, khắt khe, cương nghị,
làm việc theo nguyên tắc, không chấp nhận trái lệ, trái luật, có tinh thần liêm
chính, công bình, có tinh thần chu đáo, tinh vi, kỹ lưỡng, hay chú ý đến chi tiết.
Quân nhân có Thiên Hình đắc địa ở Quan thường rất mực thước, vô tư, ngay thẳng,
có lương tâm chức nghiệp, có bản lĩnh hành xử trách nhiệm một cách khả quan.

Đi với Binh, Tướng, ấn
thì là võ cách tham mưu, có uy dũng và mưu lược, thường được giao phó trọng
trách. Nếu Hình hãm địa thì quan cách hay gặp hung sự, tụng ngục, bị điều tra,
bị tố cáo. Gặp Tuần, Triệt án ngữ thì có thể bị giáng chức, cách chức, ở tù, bị
kiện.

5. Tuần, Triệt ở cung Quan:

Thông thường, Tuần Triệt
là sao phá, đóng ở cung nào thì gây trở ngại cho cung đó: ở Mệnh, thì thiếu thời
lận đận, ở Thân thì trắc trở, gian truân; ở Phu Thê thì hỏng một duyên nợ; ở Tử
thì hao con; ở Tài thì kém tiền bạc.

Chỉ có Tật, Tuần Triệt
phá tán bệnh tật, họa, tạo sức khỏe cho đương số.

Vì vậy, Tuần Triệt đóng ở
Quan tiên quyết gây trục trặc cho quan trường, thể hiện dưới nhiều hình thái:
hoặc chậm công danh; hoặc công danh phải lận đận, chật vật; hoặc công danh
không mấy cao, thăng giáng thất thường; hoặc không bền vững. Nếu gặp Triệt,
cong danh chậm phát lúc thiếu thời, chỉ về già mới hanh thông.

Nếu gặp Tuần, sự trục trặc
có tính cách triền miên, tuy không nặng như Triệt nhưng kéo dài suốt đời.

a. Trường hợp cung Quan có chính tinh:

Nếu chính tinh sáng sủa,
Tuần Triệt làm cho bớt sáng, có thể trở thành tối. Do đó, công danh có thể bị
trở ngại, hoặc chậm phát hoặc trục trặc, hoặc không lâu bền, hoặc có nhiều hung
sự xảy ra, có thể là mất chức, mất quyền, bị thay đổi, bằng không thì cũng bất
toại, hay gặp những sự bực mình, bất mãn, tài năng không thi thố được. Nếu tại Quan
mà có Thiên Tướng hay Tướng Quân thì càng bất lợi: vào công quyền ắt phải có lần
mất chức, bị cách chức. Tuy nhiên, có hai chế giảm cho cung Quan bị Triệt, Tuần:
i) cung Quan có Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh sáng sủa gặp Tuần Triệt thì
tương đối bền vững, chức vụ tương đối cao, không đến nỗi phải lụn bại, thăng trầm.
Những sao Tử Phủ, Cự Nhật, Cơ Nguyệt-Đồng Lương đi với sao sáng sủa khác gặp Tuần
Triệt thì công danh thất thường, không bền, gặp hung sự; ii) cung Quan ở Sửu,
Mùi có Âm Dương tọa thủ đồng cung: quan lộc được rực rỡ, đặc biệt là về sau vì
tại Sửu Mùi, Âm Dương tương đối xấu, gặp Tuần, Triệt thì sáng lại và tại Sửu

Mùi vốn là âm cung nên tốt
cho hậu vận.

Nếu chính tinh ở Quan mà
hãm địa, Tuần Triệt phục hồi sức sáng cho chính tinh, công danh sẽ quý hiển
nhưng không tránh khỏi trắc trở: quan trường chỉ phát lúc hậu vận. Đặc biệt nếu
Sát Phá Liêm Tham hay bại tinh hãm địa gặp Tuần Triệt đồng cung thì lại phát
nhanh và mạnh hơn những bộ sao khác hãm địa. Duy đối với Thiên Tướng, dù đắc
hay hãm địa, Tuần Triệt bao giờ cũng gây thảm tử, như quân nhân chết trận, viên
chức bị cách, giáng.

b. Trường hợp cung Quan vô chính diệu:

Cung Quan vô chính diệu,
dù được chính tinh đối diện sáng sủa chiếu vào, quan lộc cũng không toàn mỹ
(công danh tầm thường, chức vị không mấy cao) huống hồ gặp chính tinh đối diện
hãm địa. Duy có hai biệt lệ quan trọng làm khởi sắc cho cung Quan vô chính diệu:

Cung Quan có Tuần hoặc
Triệt án ngữ: cách này nói chung không hoàn hảo nhưng cũng đỡ xấu. Quan trường
tuy nhiều trở ngại nhưng vẫn có thể hiển đạt trong vãn vận. Nếu tảo đạt và phát
nhanh thì lại sớm tàn và hoạnh tán.

Cung Quan được Nhật Nguyệt cùng sáng sủa hợp chiếu hay xung chiếu: cách này
trở thành đắc lợi nhờ ánh sáng
phối hợp của hai nguồn năng lực Nhật Nguyệt: công danh sáng lạn, chức vụ lớn,
quyền hành cao, có triển vọng
đắc phú, tóm lại vừa giàu vừa sang. Nếu cung Quan có Tuần hay Triệt trấn thủ
tại đó thì phú quý sẽ tăng tiến
nhiều hơn nữa.

CÁCH GIÀU – NHNG SAO HU SN

 

Cách giàu phải gồm các
điều kiện sau đây:

– phải có chính tinh miếu,
vượng địa đóng ở các cung liên hệ đến tài sản, nhất là Tài và Điền. Nếu đó là
tài tinh thì càng hay, nếu có nhiều tài tinh đồng cung thì càng tốt đẹp (trường
hợp thuận vị);

– phải được Âm Dương
sáng sủa chiếu vào hai cung Tài, Điền;

– phải có phụ tinh tốt,
nhất là tài tinh đóng ở hai cung Tài, Điền hay ít ra ở những cung Mệnh, Thân,
Phúc, Quan. Nếu tài tinh hay cát tinh đắc địa thì càng tốt thêm;

– phải có sao giữ của
đóng ở những cung Tài, Điền, Quan, Di, Mệnh, Thân;

– phải có sao hưởng của ở
những cung tài sản hay ở Mệnh, Thân, Phúc, Quan;

– phải có sao di sản ở
những cung này;

– phải tránh các hao
tinh, sát tinh, hung tinh, hình tinh. Nếu không, các loại sao này phải đắc địa
hoặc có sao giải đi kèm thì sức phá sẽ giảm nhẹ;

– cát và tài tinh phải
tránh hai sao Tuần, Triệt mới bảo toàn hiệu lực.

Trong trường hợp cung
Tài, Điền không có chính tinh thì phải có những điều kiện dưới đây bổ túc:

– có tứ Không, tam Không
hay ít ra nhị Không, tức là các sao Tuần, Triệt, Địa Không và Thiên Không một phần
tọa thủ, một phần hội chiếu;

– có Âm Dương sáng sủa
chiếu vào cung vô chính diệu (Nhật Nguyệt chiếu hư vô);

– nếu không được Âm
Dương sáng sủa chiếu thì tối thiểu, cung Tài Điền vô chính diệu phải có chính
tinh miếu, vượng địa xung chiếu vào.

1. Những sao tài:

Vũ Khúc miếu và vượng địa (ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi,
Dần, Thân, Tý và Ngọ
): chỉ sự
giàu có, dư dả nói chung, thông thường là giàu về tiền bạc nhưng nếu đóng ở
cung Điền sẽ giàu về nhà đất. Vũ Khúc sáng sủa báo hiệu một thế lực tài phiệt lớn,
tức là người nhờ đồng tiền mà có thế lực, đặc biệt là khi đi đôi với Thiên Phủ,
Lộc Tồn hay Hóa Lộc.

Thiên Phủ: chỉ cái
kho lớn của trời đất, là một tài tinh quan trọng tương tự như Vũ Khúc. Nếu cả
hai sao đồng cung và đặc biệt có thêm Hóa Lộc, Thiên Mã hay Lộc Tồn thì tài sản
càng dồi dào, miễn là không bị sát, hung, hao tinh xâm phạm.

Thái Âm, Thái Dương sáng sủa: là bóng là phước của trời đất dành cho mình. Sự thịnh
vượng của Âm Dương bắt nguồn từ việc đắc thời, từ vận hội tốt đẹp của đất nước,
phù hợp với năng khiếu làm giàu của mình, trong thời bình hoặc trong thời loạn.
Nếu cả hai sáng sủa thì sức sáng gia tăng, tài lực dồi dào, đặc biệt cho những người
có giờ sinh tương hợp. Nếu đồng cung thì phải có thêm Hóa Kỵ, Tuần hay Triệt mới
hay. Ngoài ra, có thể nói sự thịnh vượng đó do cha mẹ để phúc lại. Nếu cả hai
cùng sáng thì cha mẹ giàu có, thường để di sản cho con cháu. Riêng Thái Âm trực
tiếp có nghĩa điền sản nên đóng ở Điền thì rất hợp vị. Riêng Thái Dương đi với
Thiên Lương ở Mão, với Cự Môn ở Dần hoặc Thái Âm đi với Thiên Đồng ở Tý cũng rất
giàu có. Cung Tài giáp Âm, Dương sáng sủa cũng là chỉ dấu của sự dư dả. Về mặt nghề
nghiệp, đó là những nghề dính dáng đến tiền bạc.

Tử Vi: đóng ở
cung Tài, Điền vẫn lợi lộc, nhất là ở Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Tại bốn vị trí này, Tử
Vi hội với Thiên Phủ là tài tinh, nhất là ở hai cung Dần và Thân, nêu rõ hiệu lực
về tài chính càng nhiều thêm. Nếu Tử Vi ở Ngọ thì rất rực rỡ, tài lực càng sung
mãn.

Cự Môn, Thiên Cơ đồng cung: đồng cung ở Mão và Dậu (ở Mão đẹp hơn). Hai sao này kết
hợp thì tạo được tài lộc dồi dào, nhờ tài năng cạnh tranh, óc tính toán, đa
mưu, biết người biết việc, biết phương pháp, mánh khóe, chiến lược kinh doanh,
biết tường tận môi trường tài chính, rất thích hợp cho các nghề nghiên cứu về
kinh tài. Đi chung với các tài tinh khác như Hóa Lộc, Song Hao, ý nghĩa trên càng
chắc chắn. Riêng Cự Môn đơn thủ ở Hợi, Tý, Ngọ cũng giàu có, tự lập từ tay trắng
rồi bộc phát lẹ làng, nhất là trong náo loạn, cạnh tranh.

Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung: ở Thìn và Tuất. Tại đây, Cơ Lương chỉ sự giàu có dễ dàng.
Thiên Cơ chỉ mưu trí, xảo thuật kiếm tiền. Thiên Lương chỉ cơ hội tốt đẹp và
may mắn, đồng thời cũng chỉ thiện tính của nhà buôn bán, kinh doanh. Nếu Lương
đơn thủ ở Tý Ngọ thì cũng giàu có. Đồng cung với Thái Dương ở Mão, với Thiên Đồng
ở Dần Thân thì cũng đắc phú như vậy. Cách giàu của các sao đi chung với Thiên Lương
đều lương thiện, có tinh thần xã hội, cứu độ, tạo công ăn việc làm cho kẻ khác.

Vũ Khúc, Tham Lang đồng cung: hai sao này kết hợp điển hình cho kinh doanh thương mại,
chỉ người tham tiền, ham lợi, đặc điểm của doanh thương. Vì có sự hiện diện của
Tham Lang nên sự buôn bán không lương thiện, thành thật bằng Cơ, Lương. Vũ,
Tham đắc tài lúc hậu vận. Riêng Tham Lang đơn thủ ở Thìn, Tuất cũng rất giàu,
nhất là về già; cách giàu này rất nhanh, có tính hoạnh phát, hình thái khả hữu
là sự kinh doanh táo bạo, tốc chiến tốc thắng; hình thái đầu cơ, tích trữ, cầm
giá, kìm giá, thao túng thị trường, độc quyền mại bản.

Thiên Đồng miếu địa: người trắng tay dựng nên sự nghiệp, chắc chắn là nhờ may
mắn, phúc đức. Cách giàu của Thiên Đồng phải nhọc sức, đi đây đi đó buôn bán mới
có của. Đồng đi chung với Thiên Lương ở Dần Thân cũng rất thịnh vượng và lương
thiện.

Thiên Tướng: nếu ở Tỵ,
Hợi, Sửu, Mùi hoặc đồng cung với Liêm Trinh ở Tý, Ngọ với Tử Vi ở Thìn, Tuất
thì cũng làm giàu dễ dàng mà lại lâu bền, chắc chắn và chính trực.

Phá Quân miếu địa: ở Tý, Ngọ thì dù có giàu nhanh chóng, dễ dàng nhờ mạo
hiểm, liều lĩnh, bạo dạn nhưng cũng có nhiều bất trắc vì tính mạo hiểm này. Do
Phá Quân có bản chất hao tán nên cái giàu rất mỏng manh, dù kết hợp với chính
tinh nào cũng không chắc duy trì lâu dài sự giàu có.

Thất Sát miếu địa: ở Dần ,Thân, Tý, Ngọ chỉ cái giàu rất bất thường, thường
là chậm, chỉ phát sau giai đoạn lập thân, chỉ phát lúc bất ngờ, cho nên có tính
hoạnh tài. Đi chung với Tử Vi thì kiếm tiền dễ, nhanh.

Lộc Tồn: là một tài
tinh quan trọng, báo hiệu sự dư ăn dư để, khả dĩ gọi là giàu có. Về mặt tiêu cực,
Tồn chỉ “lộc ăn”, nghĩa là có nhiều cơ hội được tiền bạc, điền sản, lợi
lộc nói chung, thường do di sản của tổ phụ, cha mẹ (Lộc Tồn ở Phúc, Mệnh) hay
do người biếu xén, tặng, giúp đỡ. Về mặt tích cực, sao này chỉ người tháo vát,
có tài tổ chức, có tính toán và quyền biến theo hoàn cảnh, có năng khiếu buôn
bán. Mệnh có Lộc Tồn tọa thủ hay tam chiếu thì hưởng lộc, nếu tọa thủ thì hưởng
nhiều, tam chiếu thì hưởng ít hơn. Nếu chỉ nhị hợp thì ít hơn nữa.

Mức độ hưởng thụ Lộc Tồn
được liệt kê trong bảng dưới đây:

 

Can của
Tuổi / Vị trí sao Lộc Tồn

Đắc lợi cho
riêng 12 loại tuổi

Đắc lợi
trong nghịch cảnh cho cung mệnh tọa thủ và tam chiếu

Đắc lợi
chút ít cho cung mệnh nhị hợp

Giáp / Tồn ở Dần

Giáp

Dn

Dần (tọa  thủ)

Hợi

Ng

Ngọ, Tuất

Tut

(tam chiếu)

ất / Tồn ở Mão

Ất

Mão

Mão (tọa thủ)

Tuất

Hi

Hợi, Mùi

Mùi

(tam chiếu)

Bính / Tồn ở Tỵ

 

 

Tỵ (tọa thủ)

Thân

Dậu, Sửu(tam chiếu)

Đinh / Tồn ở Ngọ

Không có tuổi

 

Ngọ (tọa chủ)

Mùi

đắc lợi *

Dần, Tuất (tam chiếu)

Mậu / Tồn ở Tỵ

 

 

Tỵ (tọa thủ)

Thân

Dậu, Sửu (tam chiếu)

Kỷ / Tồn ở Ngọ

 

 

Ngọ (tọa thủ)

Mùi

Tý, Thìn (tam chiếu)

Canh / Tồn ở Thân

Canh

Thân

Thân (tọa thủ)

Tị

Tý, Thìn

Thìn

(tam chiếu)

Tân / Tồn ở Dậu

Tân

Tị

Dậu (tọa thủ)

Thìn

Dậu

Tị, Sửu

Sửu

(tam chiếu)

Nhâm / Tồn ở Hợi

Không có tuổi

 

Hợi (tọa thủ)

Dần

Mão, Mùi (tam chiếu)

Quý / Tồn ở Tý

đắc lợi *

 

Tý (tọa thủ)

Sửu

 

Thân, Thìn (tam chiếu)

 

* Lý do là vì không bao
giờ có tuổi Bính Tỵ, Đinh Ngọ, Mậu Tỵ, Kỷ Ngọ, Nhâm

Hợi và Quý Tý. Vì thế
cũng không có tuổi tam hợp với Bính Tỵ (Bính Dậu, Bính Sửu) với Đinh Ngọ (Đinh
Dần, Đinh Tuất) ….

 

Hóa Lộc: nói chung,
sao này đồng nghĩa với Lộc Tồn nhưng Hóa Lộc ngay thẳng, thành thật, không mưu
cơ như Lộc Tồn. Hóa Lộc làm giàu một cách chính đáng, cạnh tranh ngay thẳng
hơn, óc con buôn tương đối vừa phải, không mấy hám tài, tham lợi như Lộc Tồn.
Cái giàu của Hóa Lộc dễ dàng hơn, không đua chen, lăn lộn với nhiều sinh kế, phần
ý nghĩa tiêu cực của Lộc Tồn ứng dụng nhiều cho Hóa Lộc. Trong khi Lộc Tồn thiết
tha giữ của thì Hóa Lộc tương đối hào sảng, biết hưởng thụ chứ không phải chỉ
biết lo chắt bóp: đây là người có tiền, chịu ăn chơi và chịu chi tiêu. ở vị thế
hội chiếu, hai sao này bảo đảm giàu có nhưng nếu đồng cung lại kém hay vì Tồn thuộc
Thổ, Lộc thuộc Mộc, hai hành xung khắc, có thể bị lụy vì tiền, có lẽ vì quá
tham kiếm tiền. Hóa Lộc hay Lộc Tồn kết hợp với Thiên Mã càng thêm giàu có.

Thiên Mã: Đắc địa ở
Dần, Tỵ và phần nào ở Thân, Thiên Mã cũng có nghĩa tài lộc, phần lớn nhờ tháo
vát, lanh lợi, không ngoan, xoay trở khéo, quán xuyến, chịu khó, chí thú làm
ăn, tương ứng với các đức tính của ngựa hay, chạy nhanh và bền. Duy cái giàu của
Thiên Mã do tự lực, tay làm hàm nhai, cho nên cực, đó cũng là cái giàu ở tha
phương, càng làm ăn xa càng có lợi. Mã chỉ dễ làm giàu khi hội tụ nhiều cách tốt
như Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt sáng, Mã Lộc Tồn, Mã Hóa Lộc, Mã Tràng Sinh, Mã
Khốc Khách, Mã và Lưu Mã. Các cách này chỉ sự may mắn, đắc thời, hợp cảnh.
Ngoài ra, hành của Mã phải phù hợp với hành của Bản Mệnh thì mới phát tài dễ dàng
(Mã ở Dần với người mạng Mộc, ở Hợi với người mạng Thủy). Nếu Mã gặp Hình hay
Tuyệt hay Tuần, Triệt hoặc là Mã ở Hợi (trừ phi với mạng Thủy) thì bất lợi,
hung hiểm hoặc chật vật. Mã đắc địa ở cung Điền có nghĩa là có nhà cửa, ruộng đất,
xí nghiệp ở nơi xa. Nếu óc thêm Tả Hữu thì có nghĩa là song mã, tam mã, ngụ ý
có thêm điền lộc. Về phương diện nghề nghiệp, Thiên Mã hợp với ngành vận tải
hàng hóa hay hành khách, môi giới, giao dịch với bên ngoài, tùy viên sứ quán về
kinh tế, thương mại.

Đại Hao, Tiểu Hao ở Mão và Dậu: chỉ sự giàu có, đặc biệt là nếu Đại Hao ở Mão và Tiểu
Hao ở Dậu. Tại hai cung này, nhị Hao rất thịnh về tiền bạc: đó là người thông
minh, lanh lợi, biết xoay trở làm ăn, có chí làm giàu lớn, dám bỏ tiền ra kinh
doanh đại sự, dám gánh bất trắc của thời cuộc để mưu lợi tối đa. óc mạo hiểm của
nhị Hao ở Mão Dậu rất lớn, được thời thì trở thành đại phú, gặp vận xui thì có
thể sạt nghiệp. Đại, Tiểu Hao không chắt mót giữ tiền mà luân chuyển vốn liếng
làm ăn rất linh động, tiêu pha lớn trong việc kinh doanh cũng như trong việc ăn
chơi, tính hào phóng hơn Hóa Lộc nhiều. Mặt khác, do đặc tính linh động, nhị
Hao ám chỉ người có nhiều ngành buôn bán, kinh doanh, đầu tư vào nhiều lĩnh vực
khác nhau, dễ chuyển ngành thương mại tự địa

hạt này sang địa hạt
khác. Nếu tài sản của Lộc Tồn tương đối bất động thì tài sản của nhị Hao lại
luân lưu. Ví dụ, Lộc Tồn đọng vốn trong việc kinh doanh bất động sản (như cho vay
bạc lấy lời, cất nhà cửa cho thuê, tạo điền sản cho mướn lấy địa tô …) còn nhị
Hao thì biến chế sản phẩm, phân phối hàng hóa, vận tải hành khách hay hàng hóa
bằng đường bộ, đường thủy (nếu có Lưu Hà) hay bằng hàng không (nếu có Phi
Liêm).

Long Trì, Phượng Các: là hai sao tốt một cách tổng quát (đẹp về nhan sắc, hay
về văn học nghệ thuật, đoan trang về phẩm hạnh, may mắn về hôn nhân, sang cả về
tiện nghi vật chất). Long Trì ở Điền chỉ cái nhà khang trang, đài các, có cảnh
trí xinh xắn, có thể có ao hồ non bộ. Long Phượng đi với Mộ có nghĩa là được hưởng
di sản. Về mặt nghề nghiệp, Long Phượng có thể là kiến trúc sư, thầu khoán, những
người sống về nghề buôn bán bất động sản, đặc biệt là khi tọa thủ ở Điền hay đồng
cung với Thái Âm.

Tam Thai, Bát Tọa: chỉ khi nào đóng ở Tài và Điền thì ý nghĩa tài sản mới
rõ ràng. Mặt khác, nếu bộ sao này gặp sao Mộ ở bốn cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi
thì tài sản càng nhiều thêm. Thai Tọa ở Tài Điền tốt đẹp thường chỉ sự hanh
thông về tiền bạc, sự may mắn trong việc tạo sản, không phải đấu tranh chật vật:
tiền bạc tương đối dễ dàng, hoặc có người bao bọc nuôi dưỡng. Tâm lý của Thai Tọa
về mặt của cải rất lạ lùng: đó là sự vô tư trước tiền của, dù là giàu hay
nghèo, vì vậy, thiếu óc đầu tư, đầu cơ, trục lợi của con buôn.

Thiên Khốc, Thiên Hư ở Tý Ngọ: chỉ sự giàu có trong hậu vận, lúc về già, “tiền bần
hậu phú”. ở những cung khác, Khốc Hư chỉ sự lo âu triền miên về tiền bạc,
phản nghĩa với Thai Tọa.

Tử ở Tài, Điền: chỉ sự kín đáo, bí mật. Đóng ở Tài, Điền, đương số có
tài sản chôn giấu hoặc nhờ người thân tín 
đứng tên. Riêng ở cung Điền tốt, sao Tử có thể có nghĩa là có quặng mỏ,
quý kim, dầu hỏa ở dưới lòng đất của mình hoặc là một trương mục vô ký danh ở
ngân hàng. Về mặt nghề nghiệp, đây có thể là nhà khai thác khoáng sản, nếu sao
Tử ở Tài, Điền và đi chung với các sao tài khác.

2. Những sao trợ tài:

Tả Phù, Hữu Bật: tượng trưng cho sự phò tá, giúp đỡ, cộng sức, chung vốn
của người đời. Đi chung với các sao tài, Tả Hữu có nghĩa là được bằng hữu giúp
đỡ trong việc làm ăn, kiếm tiền dễ dàng nhờ những cộng sự viên đắc lực. Cung
Tài có Tả Hữu thì không kinh doanh riêng rẽ, trái lại được sự hợp doanh, hợp
tư, chung của, góp công, chia lời. Nếu tọa thủ ở cung Điền tốt đẹp, Tả Hữu ngụ
ý có hai nhà hoặc một nhà, một đất hay xí nghiệp làm ăn. Còn ở cung Tài, đương
số vừa có tiền để ở nhà, vừa có trương mục ở ngân hàng. Nếu không bị sát tinh
xâm phạm thì sự hợp tác chân thành, tích cực và lương thiện. Trái lại, nếu có
sát tinh, ám tinh đi kèm thì trong sự hợp tác có nghi kỵ, cạnh tranh, gian lận,
lường gạt, hoặc giả có sự hợp tác để làm ăn ám muội và táo bạo kiểu như buôn lậu
phi pháp, có thể đi đến sự thanh toán, giành giật, phá sản, bị họa vì tiền bạc,
vì quản lý kém phân minh.

Thiên Quan, Thiên Phúc: ý nghĩa tương tự như Tả Hữu: có sự giúp đỡ của quý nhân
trong việc làm ăn, sự hợp tác có tính cách lương thiện, chân thành, bất vụ lợi,
tín nghĩa. Mặt khác, Quan và Phúc cũng có nghĩa hay giúp đỡ kẻ khác, hay dùng
tài sản làm việc phước thiện, làm việc văn hóa …

Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự phong phú, thừa thãi, đi với tài tinh, sẽ làm cho
của cải nhiều thêm. Cung Tài có sao tài đồng cung với Sinh hay Vượng thì tiền bạc
có sinh lợi, vốn đẻ ra lời hoặc vốn được tích lũy thêm mãi. Ngoài ra, Sinh Vượng
còn có nghĩa như một tổ hợp thương mại chứ không phải một sự kinh thương đơn lẻ.

Ân Quang, Thiên Quý: ở cung Tài, chỉ di sản, nhiều hay ít còn tùy số lượng
tài tinh thủ hay chiếu. Nếu có nhiều sao đi kèm, di sản đó có thể quan trọng. Mặt
khác, Quang Quý còn có nghĩa là những cổ đông bỏ vốn, thường là người thân thuộc,
tín nhiệm nên có tính cách gia tộc. Ngược lại, nếu gặp cả Không Kiếp hội chiếu,
di sản đó có thể tiêu cực (có nợ nần của cha mẹ để lại) hoặc không được hưởng
di sản, hoặc phải bị hao tán nhiều.

Đào, Hồng, Hóa Lộc: Lộc đi với Đào hay Hồng là cách giàu nhờ phái khác, sự
may mắn do người khác phái mang đến.

Hóa Quyền: đóng ở
cung Tài tốt đẹp, đi cùng với tài tinh rực rỡ, có nghĩa như một thế lực tài phiệt.
Đóng ở cung Điền, Hóa Quyền có thể là bổng lộc do nhà nước ban cấp.

Thiên Khôi, Thiên Việt: là những sao trợ tài vì làm sáng lạng thêm cho Tài, Điền
nếu hai cung này xấu. Nếu thêm tài tinh thì của cải nhiều thêm. Sự hội tụ của
nhiều tài tinh với Khôi Việt báo hiệu một thế lực tài phiệt có thể nói là xuất
chúng. Nếu hai cung Tài và Điền tương đối xấu thì sự hiện diện của Khôi Việt tại
đó sẽ làm vượng cho hai cung: đương số không đến nỗi nghèo túng, có thể đủ ăn,
đủ mặc.

3. Những bộ sao may mắn:

Thanh Long, Hóa Kỵ: nếu đồng cung là cách rồng gặp mây. Nếu chỉ hội chiếu
thì vận hội kém hơn.

Thanh Long, Lưu Hà: chỉ hoàn cảnh thuận lợi cho việc thủ đắc tài sản. ở cung
Điền, nếu đi với tài tinh, có nghĩa là có tàu bè, ngư thuyền, sinh sống bằng
nghề hàng hải, ngư nghiệp …

Bạch Hổ, Phi Liêm: đồng cung chỉ một điềm lành cho việc tạo của. Về mặt
nghề nghiệp, đây có thể là ngành chuyển vận hàng không.

Long, Phượng, Hổ, Cái: rất đẹp cho tài lộc. Riêng Long Phượng còn có nghĩa là
được hưởng di sản, cụ thể là nhà cửa.

Mã, Khốc, Khách – Mã, Sinh: Thiên Mã, Thiên Khốc và Điếu Khách hội tụ chỉ dịp may
về tài sản (mua xe). Mã và Tràng Sinh cũng đồng nghĩa. Ngoài ra, những bộ sao tốt
khác của Mã cũng mang lại may mắn như Mã Tử Phủ, Mã Nhật Nguyệt, Mã Lộc, Mã Tồn

Thiên Hỷ, Hỷ Thần (song Hỷ): báo hiệu điềm tốt, tin vui về tài sản trong một vận kỳ
nào đó nếu đi chung với tài tinh.

Địa Không, Địa Kiếp đắc địa (ở Tỵ, Hợi, Dần, Thân) giúp bộc phát mau lẹ. Đi với các sao lộc thì tài sản đến
một cách nhanh chóng, bất thần. Tuy nhiên, vì bản chất là hung sát tinh, Kiếp
Không có thể đi liền với những rủi ro, bất trắc vì vấn đề tiền bạc. Thông thường,
tiền bạc của Không Kiếp đắc địa thường là hoạnh tài, của phù vân, không mấy
chính đáng, được thủ đắc bằng những phương chước táo bạo, có thể nói là ám muội.
Đóng ở cung Điền, Không Kiếp chỉ sự mua vào bán ra bất động sản, việc thay đổi
nhà cửa tương đối mau chóng, ứng hợp với nghề trung gian bất động sản.

Thiên Trù: chỉ sự ăn
nhậu, cái lộc ăn. Đóng ở cung Tài, Điền có lợi ít nhiều về lộc, thông thường là
quà biếu hoặc được đãi đằng, nhậu nhẹt. Nếu lá số có cách giàu rõ rệt thì món
quà này có thể lớn theo khuôn khổ tương xứng. Ngược lại, có thể chỉ là vật mọn,
có giá trị tiêu dùng hơn là để dành sinh lợi.

4. Những sao giữ của:

Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân, Hỏa
Tinh, Linh Tinh, Lộc Tồn, Vũ Khúc hãm địa:
đều có ý nghĩa ăn xài kỹ lưỡng, biết tiết kiệm, chặt chẽ trong chi tiêu, tính toán cân nhắc, so đo
hơn thiệt lúc ăn tiêu, thậm chí đi đến chỗ
bủn xỉn, hà tiện, ích kỷ, không dám tiêu dùng. Càng hội tụ nhiều, tính hà
tiện càng mạnh.

 

CÁCH NGHÈO – NHNG SAO NGHÈO

Có nhiều chỉ dấu để phỏng
đoán cái nghèo nói chung:

– chính tinh ở những
cung tài sản bị hãm địa. Nếu đó là tài tinh thì mức độ nghèo không mấy nặng vì
dù sao, tài tinh hãm địa thì cũng còn ít nhiều ý nghĩa tài lộc, nhất là hợp vị ở
Tài, Điền. Có thể có hai trường hợp hãm địa gần như tương đương nhau: hoặc
chính tinh miếu, vượng và đắc địa bị Tuần hay Triệt án ngữ, hoặc chính tinh hãm
địa thiếu Tuần, Triệt án ngữ. Lẽ dĩ nhiên, chính tinh hãm địa thiếu Tuần, Triệt
đồng cung thì xấu hơn là miếu, vượng hay đắc địa gặp Tuần Triệt vì Tuần hay Triệt
chỉ có hiệu lực cản trở cái tốt của chính tinh một thời gian nào đó, đến một mức
độ nào đó mà thôi.

– những cung tài sản thiếu
phụ tinh tốt hội chiếu, nhất là thiếu tài tinh. Những cung này có tài tinh hãm
địa thì vẫn còn đỡ khổ hơn là thiếu cả tài tinh lẫn cát tinh khác.

– những cung tài sản thiếu
sao giữ của. Nếu bị thêm sao hao (Đại, Tiểu Hao hãm địa) thì càng kém, nhất là
khi hao tinh nằm ở Tài và Điền mà không gặp sao nào chế ngự.

– những cung tài sản thiếu
sao trợ tài, sao may mắn, sao hưởng của.

– những cung tài sản bị
sát tinh, hung tinh, bại tinh, hao tinh, hình tinh cùng hãm địa. Đây là trường
hợp xấu nhất, đặc biệt là khi gặp sát tinh nặng lại không hợp cách của Mệnh và
cũng không bị sao nào khác chế ngự.

– Có đủ 5 trường hợp
trên thì mức nghèo sát ván: đó là hoàn cảnh của những người cùng khổ, không có
gì để giữ, không có gì để mất. Họ dễ trở thành đạo tặc, trộm cướp.

1. Cách nghèo về điền trạch:
do cung Điền mô tả qua
những sao dưới đây:

– Phá Quân ở Dần, Thân

– Thất Sát ở Thìn, Tuất

– Thiên Đồng, Cự Môn đồng cung

– Cự Môn ở Tỵ, Thìn, Tuất

– Vũ Khúc, Thất Sát đồng cung

– Thái Dương hãm địa

– Thái Âm hãm địa

Bảy bộ sao trên đều có
nghĩa là không có tài sản.

– Tử Vi, Thất Sát đồng cung

– Tử Vi, Phá Quân đồng cung

– Tử Vi, Tham Lang đồng cung

– Liêm Trinh ở Dần, Thân

– Vũ Khúc, Phá Quân đồng cung

– Cự Môn, Thái Dương ở Thân

– Tham Lang ở Dần, Thân, Tý, Ngọ

– Cự Môn ở Hợi, Tý, Ngọ

– Thất Sát ở Tý, Ngọ

– Phá Quân ở Thìn, Tuất

– Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung

Đó là những trường hợp
có ít nhiều di sản, nhưng không giữ được, không hưởng được, bị phá sản, phải
lìa bỏ tổ nghiệp, chỉ có thể tự lập mới có chút ít điền sản nhưng phải hết sức chật
vật và chậm lụt, nhiều khi phải tha phương lập nghiệp.

– Liêm Trinh, Thiên Phủ đồng cung

– Liêm Trinh, Thất Sát đồng cung

– Liêm Trinh, Phá Quân đồng cung

– Thái Dương, Thiên Lương ở Dậu

Những cách trên tương đối
khá hơn, cụ thể như có di sản nhưng bị sa sút về sau (Liêm, Phủ), chậm của
(Liêm, Sát), lập nghiệp thất bại buổi đầu (Liêm, Phá), về già mới có nhà đất
(Dương, Lương).

Địa Không, Địa Kiếp hãm
địa:
đóng hay chiếu cung Điền,
Kiếp Không có nghĩa: không có của cải, nhà đất; bị chiếm hữu nhà đất; bị phá hủy
nhà đất; bị tai họa lớn vì điền sản. Kiếp Không hãm địa báo hiệu một đại họa bất
khả kháng, có hậu quả lớn lao và lâu dài cho sở hữu chủ. Họa đến một cách hung hãn
và bất ngờ, không lường trước được, không thể tránh khỏi. Hai sao này là một
nghiệp chướng thật sự về mặt điền sản.

Kình Dương, Đà La, Hỏa
Tinh, Linh Tinh hãm:
nếu hãm địa
và hội tụ ở Điền, bốn sao này hung hiểm không kém: chỉ sự phá sản, tai họa về
điền sản (họa về lửa nếu gặp Hỏa Linh), sự cực nhọc lúc mua sắm, lúc gìn giữ, số
lượng tài sản ít oi, phẩm chất nhà đất tầm thường, việc mất nhiều mối lợi về điền
sản.

Tuần, Triệt ở Điền: chẳng những phải tự lực mua sắm mà nhà đất còn khó tạo
hay chậm có hoặc có rồi bị phá, hao, sa sút. Nếu cả hai đồng cung, triển vọng
vô sản hoặc phá sản càng rõ rệt. Ai có di sản mà cung Điền có Triệt thì dễ bị
hao tán sớm và mạnh, nếu có Tuần thì di sản ít mới khỏi hao, còn nhiều thì hao
dần. Ai tự lập mà cung điền có Triệt thì chậm của, có thể từ 45 tuổi trở đi. Gặp
Triệt, thời gian thủ đắc chậm thêm một thập niên nữa. Nếu gặp Tuần, điền sản tự
lập hoặc ít, nếu có nhiều thì hao tán tuần tự, mặc dù của cải có thể được thủ đắc
sớm, vào tuổi lập thân.

Có hai biệt lệ đối với
cung Điền vô chính diệu:

– Điền vô chính diệu gặp
Tuần hay Triệt đồng cung: việc mua sắm chỉ khó lúc đầu của buổi lập thân, có sự
mua vào bán ra điền sản và thay đổi nhà cửa luôn. Càng về già thì mới có sản
nghiệp, nhưng tầm thường.

– Điền vô chính diệu có
Tuần hay Triệt án ngữ và có Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu: sự nghiệp tuy có
khó khăn lúc đầu nhưng về sau rất phong túc, trở thành đại phú nông, đại trạch
chủ, đại tư bản.

2. Cách nghèo về tiền bạc: biểu lộ ở cung Tài và ba cung hội chiếu Tài, cùng với
cung nhị hợp với Tài nhưng cung Tài có ý nghĩa trực tiếp.

– Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung

– Phá Quân ở Dần, Thân

– Thất Sát ở Thìn, Tuất

– Tham Lang ở Dần, Thân, Tý, Ngọ

Bốn trường hợp này là tệ
nhất: nghèo túng, nợ nần, hoang phí, bị hình ngục vì tiền (Liêm, Tham).

Tử Vi, Thất Sát: kiếm tiền mau lẹ

Tử Vi, Phá Quân: chật vật buổi đầu, càng về sau càng sung túc

Tử Vi, Tham Lang: tiền bạc bình thường, có của hương hỏa nhưng về sau bị
sa sút

Liêm Trinh ở Dần, Thân: việc kiếm tiền phải cạnh tranh và chậm nhưng làm giàu
chắc chắn

Liêm Trinh, Thiên Phủ: giàu có lớn, giữ của

Liêm Trinh, Thất Sát: tiền bạc thất thường, hết lại có

Liêm Trinh, Phá Quân: dễ kiếm tiền lúc tao loạn, nhưng hay bị họa vì tiền

Thiên Đồng, Cự Môn: tiền bạc vào ra thất thường

Vũ Khúc, Phá Quân: tiền bạc có vào nhưng lại ra hết

Vũ Khúc, Thất Sát: tự lập, vất vả lúc đầu

Thái Dương hãm, Thái Âm
hãm:
phải cực nhọc mới tạo ra
tiền, chậm có tiền

Cự Môn ở Hợi, Tý, Ngọ: tự lập, phát tài mau lẹ lúc tao loạn

Cự Môn ở Tỵ, Thìn, Tuất:
tiền bạc thất thường,
hay bị kiện tụng, thị phi vì tiền

Phá Quân ở Thìn, Tuất: tiền bạc thất thường, hết lại có

3. Những sao hao tiền bạc:

Đại, Tiểu Hao hãm địa: rất hoang phí, ham vui, tiêu pha không tiếc tiền, dù không
tiền cũng không biết lo kiếm  tiền, do đó
thường túng thiếu, nợ nần. Tâm lý của nhị Hao rất phù du, lãng tử, chỉ biết có
hiện tại, không có chí làm giàu, không có khả năng kiếm tiền, chỉ có tài ném tiền
qua cửa sổ cho thỏa thích, cho dù không muốn tiêu cũng thường gặp dịp phải chi.
Cung Tài đại kỵ hai sao này, dù có được tài tinh đồng cung thì mức chi vẫn nhiều
hơn mức thu.

 

Văn Xương, Văn Khúc: đôi khi có nghĩa mê cờ bạc, một trong những nguyên nhân
hao tán tài lộc. Đôi khi, người có Xương Khúc ở Tài sống bằng nghề cờ bạc.

Điếu Khách: cờ bạc đều
đều, có thể là người sống về nghề đổ bác hoặc chủ sòng bạc.

Đại, Tiểu Hao, Hỏa hay Linh Tinh: Hỏa hay Linh là bệnh nghiện. Nếu Hỏa, Linh không đi với
nhị Hao, có lẽ bệnh nghiện không nặng và không tốn hao lắm.

Đại, Tiểu Hao, Đào, Hồng: đây là bệnh nghiện gái/kép, hảo ngọt mà dại gái/trai,
bị tốn tiền vì tình nhân bòn của. Đào, Hồng, Song Hao không cần đóng ở Tài, có
thể đóng ở Mệnh, Quan, Phúc cũng vẫn có ý nghĩa nói trên. Duy Đào Hồng đi với
Hóa Lộc hay Lộc Tồn thì nhờ phái đẹp hoặc nhờ sắc đẹp mà trở nên giàu có.

Phục Binh: đóng hay
chiếu cung Tài, Phục Binh dễ bị mất trộm, thường bị ăn chặn, ăn gian, lường gạt,
hoặc mất bất cứ của cải gì. Trong lá số gian phi, Phục Binh là chính mình đi trộm,
đi giựt, chính mình là thủ phạm hay tòng phạm. Đóng ở cung Nô thì tôi tớ trong
nhà lấy đồ đạc của chủ, bạn bè quỵt tiền mình.

Thiên Hình: ở một cung
Tài đẹp không có lợi vì chỉ tụng ngục, hình tù vì nguyên do tiền bạc, cũng có
thể bị bắt rồi phải hao tiền chạy chữa. Nếu cung Tài xấu, Thiên Hình có thể chỉ
sự trộm cắp, lường gạt, cướp giật mà bị tù tội. Nếu có Song Hao hãm địa thì có
tái phạm ít ra hai lần. Thiên Hình đồng cung với Thiên Tướng (cho dù có đắc địa
đi nữa) ở Tài cũng xác nhận tai họa vì tiền khó tránh. Nếu Hình đi chung với
Không Kiếp thì bị cướp đánh đập khảo của, bắt giữ để tống tiền. Nếu cung Tài xấu,
thì chính đương sự là kẻ phạm pháp. Nếu đồng cung với Liêm Tham ở Tỵ Hợi, tù tội
khó tránh và phải vướng mắc nhiều lần.

Thiên Hình, Lực Sỹ: ở cung Tài xấu, Hình Lực có nghĩa bần cùng sinh đạo tặc.
Lực Sỹ chỉ sức mạnh cho nên thường phạm pháp bằng bạo lực và bằng dụng cụ nhà
nghề như cạy cửa, đào tường, khoét vách để lấy trộm. Vì có Hình, ắt có lần bị bắt
quả tang, phải vướng lao tù. Cũng vì có Lực, phạm nhân có thói quen thoát ngục
bằng bạo lực. ở cung Tài xấu, hai sao này xác nhận thêm sự nghèo khó.

Hóa Kỵ: chỉ: hao
tài, tán của nhưng không mạnh bằng Song Hao; bị dị nghị, đàm tiếu, tai tiếng
trong việc kiếm tiền; bị cạnh tranh, đố kỵ, ghen ghét vì tiền bạc. Ngoài ra, nếu
Mệnh xấu có Kỵ mà giáp Kình Đà thì cũng nghèo, lang thang tìm miếng ăn rất khổ
cực.

Quan Phù, Quan Phủ, Thái Tuế: trừ phi đương số hành nghề luật sư, thẩm phán, bằng không,
ba sao này chỉ sự kiện tụng vì tiền bạc, sự hao tài vì thưa kiện, sự tranh chấp
tài sản giữa anh em hay với người ngoài, kéo nhau đến tòa án. Mặt khác, Quan
Phù và Quan Phủ trong cung cách gian phi còn chỉ sự phản bội, sự lường gạt cụ
thể như mượn tiền không trả, giật hụi, chia “chiến lợi phẩm” không
sòng phẳng thường đi đến cãi vã, kiện thưa, thanh toán, trả thù. Ba sao này nếu
đi chung với Đà La, Hóa Kỵ: càng nhấn mạnh cường độ của sự tranh tụng.

Liêm, Tham đồng cung: báo hiệu sự kiện thua vì tiền, có thể đi đến ngục tù.

Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: nghèo túng, nợ nần cực khổ, thậm chí có thể ăn mày, nếu
có chút của cũng tán tài, sự mất của xảy ra bất ngờ, mau chóng, liên quan đến số
tiền lớn và thường đi liền với bạo hành như đánh đập, cướp giật, phá nhà, hoặc dùng
thủ đoạn phi pháp như lường gạt, sang đoạt, thậm chí có khi giết người. Tóm lại,
Kiếp Không có hai nghĩa chính: hoặc là vô sản, hoặc là bị họa vì tiền bạc. Đi
chung với Tướng Quân, Phục Binh hay Tả, Hữu thì có thêm tòng phạm. Kiếp Không
hãm địa ở cung Tài của một lá số gian hùng có nghĩa là chính mình đi cướp của,
dùng thủ đoạn ám muội và táo bạo để tạo ra tiền. Cách này thường đi liền với
cách ăn mày trong bối cảnh các cung Phúc, Mệnh, Thân cùng xấu.

Kình, Đà, Hỏa, Linh hãm địa: càng hội nhiều vào cung Tài thì càng nghèo khó. Các sao
này thường chỉ con người rất bủn xỉn, đê tiện, chỉ biết có đồng tiền và hành động
tráo trở để xoay tiền. Nếu Mệnh xấu mà giáp Kình, Đà thì cũng rất nghèo, có khi
phải ăn xin.

Tuần, Triệt ở cung Tài: như Tuần Triệt ở cung Điền.

Thiên Không: phá tán,
không cầm của được nhiều, không giữ của được lâu dài. Những nguyên nhân hao tán
thường là bất khả kháng hoặc là hậu quả của một thủ đoạn thủ đắc tiền bạc về
trước.

Thiên Giải: ở Tài Điền thì không cầm giữ của cải được nếu ở cung
Tài xấu. Nếu đi với tài tinh thì sẽ có nhiều
dịp may kiếm lợi.

 

CÁCH TH, CÁCH YU – NHNG SAO YU, TH

 

1. Cách yểu của trẻ con:

a. Giờ kim sà: Phạm giờ
kim sà, triển vọng của đứa trẻ rất bấp bênh. Cho dù có sống cũng hết sức khó
nuôi vì đau yếu luôn luôn. Nếu Bản Mệnh đứa trẻ bị cha (hay mẹ) khắc hành, thì
càng khó sống.

Cách tính giờ kim sà rất
phức tap:

– dùng cung Tuất, kể là
năm Tý, đếm theo chiều thuận đến năm sinh;

– đến cung nào, kể cung
đó là tháng giêng, đếm theo chiều nghịch đến tháng sinh;

– đến cung nào, kể cung
đó là mùng một, đếm theo chiều thuận đến ngày sinh;

– đến cung nào, kể cung
đó là giờ Tý, đếm theo chiều nghịch đến giờ sinh thì dừng lại ở cung này.

Nếu là trai, mà cung này
là cung Thìn hoặc cung Tuất thì phạm giờ
kim sà. Còn nếu cung này là cung Sửu hay Mùi thì phạm vào bàng giờ.

Nếu là gái, mà cung này
là cung Sửu hoặc Mùi thì phạm giờ
kim sà, còn nếu
rơi vào cung Thìn hay Tuất thì chỉ phạm
bàng giờ.

Trong các trường hợp phạm
giờ kim sà, trai hay gái, dễ yểu trước 13 tuổi. Còn nếu chỉ phạm bàng giờ thì
có cơ may tồn tại, nhưng sẽ hết sức khó nuôi. Tuy nhiên, nếu Bản Mệnh đứa trẻ bị
Bản Mệnh người mẹ hoặc người cha khắc thì ít hy vọng, đứa nhỏ sẽ có thể yểu,
sau nhiều lần đau yếu. Tuy nhiên, trong trường hợp có hy vọng tồn tại, còn phải
xem thêm các sát tinh thủ Mệnh đứa trẻ để quyết đoán cho chắc chắn.

b. Giờ quan sát: Phạm giờ quan sát, trẻ con hoặc hay đau yếu, hoặc bị
tai nạn bất ngờ đe dọa sinh mệnh. Cách tính chỉ dựa theo giờ, tháng sinh theo bảng
dưới đây:

 

tháng
sinh

giờ
quan sát

1

Tị

2

Ngọ

3

Mùi

4

Thân

5

Dậu

6

Tuất

7

Hợi

8

9

sửu

10

Dần

11

Mão

12

Thìn

 

Cần lưu ý rằng tai nạn
sơ sinh có ảnh hưởng sâu rộng đến tính nết đứa trẻ. Thông thường, tai nạn đó
khiến đứa trẻ sau này rất ngỗ ngược, liều lĩnh, ngang tàng.

c. Giờ tướng quân: Phạm giờ này, trẻ hay bị bệnh, đặc biệt là ghẻ lở và
thần kinh không quân bình, thẻ hiện bằng tính khóc hoài không nín, khóc rất
dai. Tuy nhiên, tính mạng đỡ lo, có hy vọng tồn tại nhiều hơn hai giờ kim sà và
quan sát. Cách tính giờ tướng quân theo mùa và giờ sinh theo bảng dưới đây:

 

mùa sinh

giờ tướng quân

Xuân
1-1 đến 30-3

Thìn – Tuất – Dậu

Hạ
1-4 đến 30-6

Tý – Mão – Mùi

Thu
1-7 đến 30-9

Dần – Ngọ – Sửu

Đông
1-10 đến 30-12

Thân – Tỵ – Hợi

 

d. Giờ Diêm vương: Phạm giờ này, trẻ con thường có nhiều chứng dị kỳ,
như hay giật mình, hốt hoảng, trợn mắt, lè lưỡi, hầu như bị một ám ảnh nào lớn
lao trong tâm trí mà đứa trẻ cơ hồ như ý thức được. Cách tính giờ Diêm vương
theo tháng và giờ sinh như sau:

 

mùa sinh

giờ diêm vương

Xuân

Sửu – Mùi

Hạ

Thìn- Tuất

Thu

Tý- Ngọ

Đông

Mão- Dậu

 

e. Giờ dạ đề: Phạm giờ
này, trẻ chỉ hay khóc về đêm. Cách tính cũng dựa theo tháng và giờ sinh âm lịch:

 

mùa sinh

giờ tướng quân

Xuân

Ngọ

Hạ

Dậu

Thu

Đông

Mão

 

f. Trường hợp Mệnh Không, Thân Kiếp: cho dù cả hai sao đắc địa cũng nguy kịch đến tính mạng,
nhất là cung Mệnh hoặc cung Thân có Thiên Đồng, Thiên Lương hoặc Phá Quân tọa
thủ, cho dù có cát tinh nào tốt đi cùng cũng vậy. Càng có thêm hung tinh, hao
tinh, bại tinh, hình tinh, càng chắc yểu. Cung Phúc ở đây không quan trọng vì đối
với trẻ mới sinh, 1 tuổi thì xem cung Mệnh. Dù Phúc có tốt cũng không đỡ nổi vì
cung Phúc chỉ ứng vào 5 tuổi.

g. Trường hợp Mệnh Kiếp, Thân Không:

Gặp Thiên Đồng hoặc
Thiên Lương hoặc Phá Quân ở Mệnh hay Thân hội với Kiếp, Không thì yểu. Ngoài
ra, nếu Mệnh vô chính diệu mà có Đào, Hồng và sát tinh khác hội tụ thì cũng chết
non hoặc yểu sinh.

h. Trường hợp xung khắc Bản Mệnh với người mẹ:

Nếu Bản Mệnh của Mẹ khắc
Bản Mệnh con sơ sinh thì càng nguy kịch cho đứa trẻ. Nếu gặp thêm hai trường hợp
trên thì chắc chắn không thọ. Nếu bị Bản Mệnh người cha khắc, không nguy kịch bằng.

i. Những xung kỵ khác:

– Sinh năm Dần, Ngọ, Tỵ,
Dậu vào bốn giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì tối độc.

– Sinh năm Dần, Hợi, Tỵ
vào giờ Ngọ, Thân, Dậu, Hợi thì khắc cha, cha chết trước lúc con còn nhỏ tuổi
nhưng nếu qua 16 tuổi mà chưa mồ côi cha thì sự hình khắc đó coi như tiêu tán
và cha con có thể chung sống lâu dài được.

– Sinh năm Thìn, Tỵ, Sửu,
Mùi vào giờ Tý, Ngọ, Mão, Tỵ, Hợi, Thân, Dậu thì khắc mẹ trước.

Ba loại xung khắc này phải
được tính chung với ba cung Mệnh, Phúc và Phu để có thêm yếu tố xét đoán.

2. Cách yểu của người lớn:

a. Sự nghịch lý của Âm Dương: gây trục trặc căn bản và đa diện, tạo một yếu tố bất lợi
cho cuộc đời nói chung và sự yểu nói riêng.

b. Sự đối khắc giữa Bản Mệnh và Cục: rất quan trọng, tuy không hẳn là quyết định.

c. Sự đối khắc giữa cung Mệnh và Bản Mệnh: trong trường hợp Mệnh vô chính diệu thì xấu.

d. Sự đối khắc giữa cung Mệnh, chính tinh của Mệnh và Bản
Mệnh:
nếu cung Mệnh có chính
tinh, cung an Mệnh khắc chính tinh đó rồi chính tinh đó khắc lại Bản Mệnh một lần
nữa thì trực tiếp hại cho Bản Mệnh.

e. Trường hợp bại địa và tuyệt địa của cung an Mệnh: rất bất lợi.

f. Cung Phúc xấu: làm dễ yểu hơn nữa. Cung Phúc xấu trong những trường
hợp sau:

– có chính tinh tốt, đắc
địa mà bị Tuần hay Triệt hoặc cả Tuần lẫn Triệt. Chỉ có một ngoại lệ duy nhất
là Âm, Dương đắc địa ở Sửu, Mùi cần gặp Kỵ, Tuần, Triệt mới sáng lại;

– có chính tinh (tốt hoặc
xấu, nhất là xấu) mà bị sát tinh nghịch cách xâm phạm. Số lượng sát tinh càng nhiều
thì càng bất lợi. Nếu gặp hung, hao, hình, bại tinh thì đỡ hơn.

– không có chính tinh mà
thiếu Tuần, Triệt trấn đóng;

– không có chính tinh mà
thiếu Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không hội chiếu;

– không có chính tinh mà
bị xung chiếu bởi chính tinh hãm địa;

– cung Phúc ở bại địa và
tuyệt địa;

– chính tinh của Phúc bị
hành của cung khắc, chính tinh này lại khắc hành của Bản Mệnh;

Cần lưu ý rằng những bất
lợi trên bổ túc thêm các bất lợi ở các mục trước. Nếu chỉ gặp riêng những trường
hợp  xấu của cung Phúc thì trước hết là yểu,
hoặc là thọ mà nghèo hèn, hoặc là bị bệnh tật và họa nặng, hết sức bất lợi cho
sự sống, hoặc có thể vì bệnh, họa, tật và nghèo đói mà tự tử.

g. Cung Mệnh, cung Thân, cung Hạn cùng xấu: Gặp thêm ba cung này xấu, càng dễ yểu hơn. Cái xấu của
ba cung này tương tự như cái xấu của Phúc. Hạn nào xấu nhất thì dễ yểu trong thời
gian đó. Nếu Mệnh tốt, Thân xấu gặp Hạn xấu sẽ yểu trong thời gian của Thân và
của Hạn. Nếu Mệnh xấu, Thân tốt gặp Hạn xấu có thể đỡ khổ hơn: nếu không yểu
trong thời hạn của Mệnh thì có thể qua khỏi và sẽ hanh thông sau 30 tuổi, chỉ
hiềm phải hết sức vất vả trong vòng 30 tuổi đầu, đặc biệt là trong vòng hạn xấu
(cụ thể như nghèo, thất nghiệp, bệnh, họa, tang khó, mồ côi, tự lập …)

h. Cung Tật xấu: cá nhân bất hạnh về sức khỏe, về yểu dù có phú, có
quý. Trong trường hợp này, ba cung Phúc, Mệnh, Thân phải đặc biệt tốt mới quân
bình ít nhiều cái xấu của Tật.

3. Các sao yểu:

a. Yểu cách của chính tinh:

Tử Vi: đi chung với
Tham Lang thì giảm thọ, với Phá Quân thì phải ly hương mới sống lâu, với Tuần
hoặc Triệt thì yểu, với Kình Đà Không Kiếp thì bị hãm hại. Yểu cách càng rõ nếu
Tử Vi ở những vị trí bình hòa như Hợi, Tý, Mão, Dậu.

Liêm Trinh: đi với Thất
Sát hoặc Tham Lang, Liêm Trinh chẳng những yểu mà họ hàng cũng có người chết sớm,
bằng không cũng bị ác bệnh, tù tội, nghèo hèn, tha phương cầu thực. Đi với Phá
Quân thì phải xa quê và vất vả mới thọ.

Thiên Đồng: đóng ở Dậu,
Thìn, Tuất có nghĩa giảm thọ và xa cách họ hàng. Đồng cung với Cự Môn cũng yểu,
hay bị quan tụng và tranh chấp nhau trong gia đình. Đồng cung với Thái Âm ở Ngọ
cũng kém thọ và cô độc.

Vũ Khúc: giảm thọ nếu
đồng cung với Thất Sát hay Phá Quân. Ngoài ra còn cô độc, rời tổ. Họ hàng cũng
nghèo và yểu.

Thái Dương: đóng ở những
cung ban đêm thì xấu: yểu và chết bi thảm, nhất là đối với người sinh về đêm.

Ngoài ra, Âm Dương cùng
hãm địa phối chiếu với nhau hoặc xung chiếu nhau cũng là yếu tố đối khắc vận mệnh
quan trọng.

Thiên Cơ: xấu nếu đồng
cung với Thái Âm ở Dần, đặc biệt là đối với phụ nữ.

Thiên Phủ: ở Sửu,
Mùi, Mão, Dậu thì không hay. Đồng cung với Tuần, Triệt, Không, Kiếp, Thiên
Không càng bất lợi hơn vì những sao này giảm thọ.

Thái Âm: đóng ở những
cung ban ngày với người sinh ban ngày, Thái Âm hãm địa kém thọ, nhất là đối với
nữ. Nếu Âm đồng cung với Thiên Đồng ở Ngọ hay Thiên Cơ ở Dần thì cũng có nghĩa
tương tự.

Tham Lang: bất lợi ở
Tý, Ngọ hoặc khi nào đồng cung với Tử Vi, với Liêm Trinh (ở Tỵ, Hợi).

Cự Môn: không tốt ở
Thìn, Tuất vì giảm thọ, hay bị quan tụng. Đi với Thiên Đồng cũng có ý nghĩa
tương tự.

Thiên Tướng: xấu ở Mão,
Dậu lúc thiếu thời, chỉ khi về già mới có may mắn.

Thiên Lương: giảm thọ ở
Tỵ Hợi hoặc đồng cung với Thái Dương ở Dậu.

Thất Sát: đóng ở
Thìn, Tuất hoặc đồng cung với Liêm Trinh, Vũ Khúc thì yểu và chết vì binh đao,
hình ngục.

Riêng ở Tý Ngọ, tuy kém
Phúc, ly hương nhưng cũng còn có ít nhiều cơ may thọ.

Tất cả các sao ở những vị
trí kể trên mà gặp thêm sáu sát tinh Kình, Đà, Không, Kiếp, Hỏa, Linh thì tuổi
thọ nhất định giảm. Nếu cung Mệnh, Thân cùng xấu, yểu cách càng dễ đoán.

b. Yểu cách của phụ tinh:

Địa Không, Địa Kiếp: hết sức tai hại lúc hãm địa, có hiệu lực quân bình hay
lấn át cả Tử, Phủ. Lúc hãm địa, hai sao này có ý nghĩa xấu toàn diện có liên
quan đến cái chết, cái nghèo, cái họa, cái bệnh, cái tật, tóm lại nó tượng
trưng cho sự đổ gãy nặng nề, mau chóng và bất khả kháng (nếu thiếu cát và giải
tinh). Đóng ở những cung Phúc, Mệnh, Thân, tác họa toàn diện đó sẽ kéo dài suốt
đời, dưới nhiều hình thái hoặc một trong các hình thái kể trên. Con người càng
lớn tuổi, hai sao này mạnh thêm với thời gian để gây họa, bệnh, tật hoặc đồng
loạt trên nhiều phương diện, có thể xem như là họa vô đơn chí. Nếu đóng ở cung
cường khác như Quan, Tài, Di, Phu Thê, hai sao này tác họa trên những lãnh vực
này một cách không chối cãi. Đi với sát tinh hãm địa khác, Kiếp Không càng sát
hại mạnh mẽ hơn. Đi với Đào hay Hồng cũng yểu.

Hỏa Tinh, Linh Tinh: là “đoản thọ sát tinh”, có hiệu lực làm giảm
thọ, nhất là ở hãm địa. Nếu đắc địa thì mức thọ cao hơn. Đi chung với Kình, Đà
hãm địa thì phải chết thảm, với Kiếp Không thì càng nguy kịch hơn.

Kình Dương, Đà La: giảm thọ nếu hãm địa và ly hương lập nghiệp vất vả. Đặc
biệt ở Tý, Ngọ, Mão, Dậu, Kình Dương ở Mệnh thì chết non. Đi với sát tinh kể
trên, tai họa càng khủng khiếp. Riêng ở Ngọ, Kình thủ Mệnh ví như gươm kề cổ ngựa,
rất dễ nguy kịch. Nếu gặp thêm Thất Sát, Thiên Hình, chắc chắn phải yểu tử và
chết tang thương. Được cát tinh đi chung thì may rủi đi liền với nhau.

Kiếp Sát: chỉ khi
nào thủ Mệnh, Kiếp Sát mới nguy kịch, có ý nghĩa giống như sao Địa Kiếp, chỉ giảm
thọ, đặc biệt là vì một bệnh hiểm nghèo, sau một cuộc giải phẫu.

Ngoài những sát tinh kể
trên, yểu cách còn do bại tinh góp phần tăng hiệu lực. Đó là các sao:
Tang Môn, Bạch Hổ – Đại
Hao, Tiểu Hao – Thiên Khốc, Thiên Hư – Bệnh, Bệnh Phù – Suy, Tử, Tuyệt – Thiên
Thương, Thiên Sứ nhập hạn.

Hóa Kỵ, Đà La, Thiên Riêu: giảm thọ nếu đồng cung hoặc hội chiếu hoặc ở vị trí tam
ám liên hoàn (Mệnh có một sao, hai bên giáp hai sao) hoặc đi cùng với Thái Âm,
Thái Dương (sáng hay mờ). Hóa Kỵ chỉ tốt khi đồng cung với cả Âm Dương ở hai
cung Sửu và Mùi.

Cô Thần, Quả Tú: đi với sao xấu, Cô Quả chỉ giảm thọ hoặc là cô độc.

Giải Thần nhập hạn: nếu cả đại tiểu hạn cùng gặp Giải Thần cùng với các sao
xấu khác thì chắc chắn phải chết một cách nhanh chóng. Sao này chỉ hóa giải được
nạn nhỏ. Gặp đại nạn, đại bệnh, Giải Thần là tử thần, làm chết một cách nhanh
chóng. Sao xấu dù đắc địa hội với Giải Thần ở đại tiểu hạn cũng không cứu gỡ được
nguy cơ này.

Xương, Khúc: báo hiệu
chết non nếu ở Nô hoặc đồng cung với Liêm ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi, Mão, Dậu; với
Phá ở Dần. Yểu cách lệ thuộc vào hai lý do: tại họa nặng nề và bất kỳ xảy ra; bệnh
hoạn nặng nề mà có.

4. Cách thọ: Một cách tổng quát, cát tinh đắc địa nói chung đều có
nghĩa thọ. Những cát tinh đó đóng ở Phúc và Thân thì càng hay.

a. Thọ cách của chính tinh:

Tử Vi: thọ nhất
là Tử Vi ở Ngọ và khi Tử Vi đồng cung với Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng. Tử Vi với
Thất Sát thì kém hơn, nghĩa là cũng thọ nhưng phải ở xa quê cha đất tổ.

Liêm Trinh: thọ ở Dần,
Thân, hoặc khi nào đồng cung với Thiên Phủ hoặc Thiên Tướng.

Thiên Đồng: thọ ở Mão
hoặc khi nào đồng cung với Thiên Lương hoặc Thái Âm (ở Tý) hay Tràng Sinh.

Thái Dương: chỉ thọ
khi tọa thủ ở các cung ban ngày như Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, nhất là đối với những
người sinh ban ngày và tuổi dương. Tại Sửu, Mùi, đồng cung với Thái Âm, cần phải
có Tuần, Triệt, Hóa Kỵ đồng cung mới thọ.

Thiên Cơ: thọ ở Tỵ,
Ngọ, Mùi và khi đồng cung với Thiên Lương hoặc Thái Âm (ở Thân) hoặc Cự Môn.

Thiên Phủ: thọ ở Tỵ,
Hợi hoặc đồng cung với Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc.

Thái Âm: chỉ thọ
khi đóng ở các cung ban đêm như Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý nhất là đối với người
sinh ban đêm, đặc biệt vào giờ có trăng lên và người tuổi Âm. Tại Sửu, Mùi cần
có Tuần, Triệt hay Hóa Kỵ đồng cung.

Tham Lang: thọ ở
Thìn, Tuất hoặc khi đồng cung với Vũ Khúc hay Tràng Sinh, ở Dần Thân thì kém
hơn.

Cự Môn: thọ ở Hợi,
Tý, Ngọ hoặc đồng cung với Thái Dương ở Dần, với Thiên Cơ ở Mão Dậu.

Thiên Tướng: thọ ở Tỵ,
Hợi, Sửu, Mùi hoặc đồng cung với Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc.

Thiên Lương: thọ ở Tý,
Ngọ, Sửu, Mùi hoặc đồng cung với Thiên Đồng, Thái Dương (ở Mão) và Thiên Cơ.

Thất Sát: chỉ thọ ở
Dần, Thân, nhưng với điều kiện phải ly hương; hoặc khi đồng cung với Tử Vi.

Phá Quân: thọ ở Tý,
Ngọ nhưng phải xa quê.

b. Thọ cách của phụ tinh:

Những phụ tinh có thọ
cách độc lập gồm:
Lộc Tồn, Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Thiên Mã, Long
Trì, Phượng Các, Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Quan, Thiên Phúc, Tràng Sinh, Đế Vượng,
Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần, Long Đức, Nguyệt Đức, Phúc Đức, Thiên Đức,
Thiên Thọ.

Những sao thọ liên đới tức
là cần có sao tốt khác đi kèm, gồm có:
Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phù,
Hữu Bật, Cô Thần, Quả Tú, Đào Hoa, Hồng Loan và Đà La ở Dần Thân vô chính diệu,
không có Tuần Triệt đồng cung.

Tất cả sao, chính hay phụ tinh, kể trên muốn toàn nghĩa phải có thêm điều
kiện: không bị Tuần, Triệt trấn thủ,
không bị sát tinh đồng cung. Nếu phạm những cấm kỵ này, tuổi thọ bị giảm. Đặc
biệt tại cung hạn của tuổi già –
hoặc là cung Thân, hoặc là cung đại hạn, tiểu hạn – cách thọ phải vẹn toàn,
đông đảo thì mới mong sống lâu
được.

 

CÁCH BNH,TT – NHNG SAO BNH, TT

1. Những bệnh về bộ máy
tiêu hóa:
thông thường, bộ máy
tiêu hóa do 5 sao chỉ định: Thiên Đồng, Đại Hao, Tiểu Hao, Thiên Riêu, Hỷ Thần.
Chỉ riêng Thiên Riêu chỉ ruột và Hỷ Thần chỉ Hậu Môn, ba sao còn lại không chỉ đích
danh bộ phận nào trong bộ máy tiêu hóa. Theo nguyên tắc, hễ sao chỉ bộ máy tiêu
hóa mà đi chung với sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh thì tất bị bệnh.

Địa Không, Địa Kiếp: đây là hai sao chỉ bệnh nặng nói chung, trong đó có bệnh
về bộ máy tiêu hóa nếu đi chung với một trong 5 sao chỉ bộ máy tiêu hóa. Vì
Không Kiếp chỉ ung nhọt, chốc lở nên bộ máy tiêu hóa có thể bị rách, chảy máu.
Về cường độ, vì Không Kiếp là sát tinh hạng nặng cho nên bệnh sẽ nặng, nhất là
khi hãm địa. Vốn là sao Hỏa, nên bệnh bột phát bất ngờ.

Thiên Hình, Kiếp Sát: một trong hai sao này chỉ về mổ xẻ. Bộ máy tiêu hóa có
thể bị giải phẫu. Bệnh sẽ tương đối nặng, nhất là khi gặp cả hai sao.

Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh: bốn sao này chỉ bệnh nhưng không rõ tính chất và cường
độ nhưng chắc chắn không nặng bằng Không Kiếp.

Đại Hao, Tiểu Hao: Đúng ra, Song Hao chỉ bệnh đau bụng, tiêu chảy. ở Mệnh
hay Tật, Song Hao chỉ tạng của người hay đi tiêu chảy, tái đi tái lại, hầu như
kinh niên. Cũng có thể là bệnh ăn không tiêu, kém ăn, trúng thực, thượng thổ hạ
tả.

Hóa Kỵ: chỉ trục
trặc nhỏ trong bộ máy tiêu hóa, do sự dùng thuốc quá liều, hay ăn trúng phải chất
có hại cho tiêu hóa (Hóa Kỵ là hóa chất).

Thiên Khốc, Thiên Hư: chỉ sự lục đục, hao hoại ngấm ngầm của bộ máy, không hẳn
là bệnh nhưng gây khó chịu như ăn không tiêu, trục trặc không rõ căn nguyên. Một
nguyên do khả hữu là vì bộ răng không tốt, nhai thức ăn không kỹ. Đây cũng là một
bệnh kinh niên.

Ngoài ra, những bộ sao
dưới đây liên quan đến bệnh tiêu hóa nói chung:

– Thái Âm hãm địa

– Vũ Khúc, Thất Sát

– Thiên Đồng, Hóa Kỵ

– Thiên Trù, Đại, Tiểu Hao

bệnh do ăn uống quá độ
hoặc ăn món lạ bị ngộ độc. Đây là bệnh của người ăn nhiều cao lương mỹ vị, trà
dư tửu hậu, thường thấy trong giới ngoại giao, bợm nhậu.

Riêu, Đà, Kỵ: đau bao tử, đau ruột

Không, Kiếp, Bệnh, Cơ: bệnh mật

Không, Kiếp, Hỷ Thần: bệnh trĩ

Tham, Đà: bệnh do ăn uống quá độ, bội thực

Bệnh Phù: hay đau dạ dày, đầy hơi, kiết lỵ hoặc thiếu dinh dưỡng
sinh ra phù thũng.

2. Những bệnh về bộ máy hô
hấp:

Địa Không, Địa Kiếp: chỉ bệnh đau phổi dưới nhiều hình thái và cường độ khác
nhau từ ho, suyễn, yếu phổi, kém khí cho đến lao, ung thư phổi, sưng phổi.

Tang, Hổ, Khốc, Hư: ho lao

Thái Âm hãm địa: đau phổi

Thiên Cơ, Khốc, Hư: phong đờm, ho ra máu

Thiên Khốc: phổi yếu,
hay ho vặt

Hình, Bệnh hay Tử: có thể bị lao hay kinh phong

Ngoài ra, những sát
tinh, hình tinh, hao bại tinh, kỵ tinh ứng dụng vào bộ máy hô hấp sẽ mô tả thêm
rõ hơn hình thái hoặc cường độ của bệnh. Ví dụ, gặp Thiên Hình Kiếp sát thì bệnh
hô hấp có thể phải mổ, bị Song Hao thì bệnh phổi hay tái phát nhiều lần gần như
trầm kha; gặp Hóa Kỵ thì sinh thêm bệnh tiêu hóa vì dùng quá nhiều thuốc trị phổi;
gặp Lưu Hà thì có thể là phổi có nước …

3. Những bệnh về bộ máy tuần
hoàn:

Hai sao Tang Môn Bạch Hổ chỉ máu.

Lâm Quan, Hỏa hay Linh: bệnh chảy máu cam, xuất huyết, đứt mạch máu

Bạch Hổ: máu xấu,
nhất là đối với phụ nữ.

Tang Môn, Bạch Hổ: bệnh khí huyết, bệnh thiếu máu, căng mạch máu, yếu
tim, đau tim.

Đào Hoa, Hồng Loan: yếu tim

Lưu Hà: bệnh máu
loãng, hay ra máu khi bị thương, bệnh hoại huyết

4. Những bệnh về bộ máy bài
tiết và sinh dục:

Thiên Riêu hay Thiên Hư: bệnh suy thận, dương hư

Tham, Riêu – Đào, Hồng, Không, Kiếp – Riêu, Cái: chỉ bệnh phong tình

Đào, Hồng, Kỵ, Mộc – Đào, Hình, Thai, Mộc: chỉ bệnh “phạm phòng”.

Thai, Không, Kiếp: chỉ bệnh đau tử cung, lệch hay sa tử cung

Cự, Kình, Hỏa – Tham ở Tý, Ngọ (có thể đi kèm với Đà La):
bệnh do tửu sắc, sinh dục
quá độ.

Nếu đi chung với Không
Kiếp thường là nặng và có máu mủ; với Thiên Hình, Kiếp Sát có thể bị mổ xẻ …

5. Những bệnh về tai, mũi,
họng:
Long Trì chỉ mũi, Phượng
Các chỉ tai, Phá Toái chỉ cuống họng.

Phượng, Kình, Đà: bệnh ở tai, cứng tai, lãng tai, sớm lãng tai, điếc.

Trì, Khốc, Hư: bệnh lở
mũi, có Thiên Hình là có mổ, có Hỏa Tinh Linh Tinh là có đốt.

Lâm Quan, Địa Kiếp: bệnh yết hầu, thịt dư ở cổ họng.

Phá Toái, Hình hay Hư, Khốc: đau cuống họng, tiếng khàn rè

Riêu: đau răng,
hư răng, sớm rụng răng.

6. Những bệnh của sản phụ:

Đào, Hồng, Kình, Kỵ, Mộc: bệnh tiểu sản, hậu sản

Không, Kiếp, Mộc hay Kỵ, Mộc: bệnh sản thai, đau dạ con, khó đẻ

Nguyệt hãm hay Nguyệt, Kỵ hay Nhật, Kỵ, Hư: âm hư, kinh nguyệt không đều, dương hư, có bệnh về bộ
phận sản dục ảnh hưởng đến sự thụ thai, sinh đẻ.

Lưu Hà hay Tang, Hổ: khi sinh đẻ hay bị băng huyết vì máu loãng.

7. Những bệnh ngoài da:

Vũ, Cơ: Bệnh ngoài
da hay tê thấp.

Tướng ở Mão, Dậu: da mặt vàng, có bệnh thuộc khí huyết hoặc ngoài da.

Cơ, Nguyệt: hay có mụn
nhọt

Không, Kiếp, Cơ: mụn nhọt, lở chốc có máu mủ

Phá: máu nóng
lúc nhỏ tuổi sinh nhọt

Liêm, Phá: chân tay
có tỳ vết

Kình, Cái, Không, Kiếp: phát ban, lên đậu

Hỏa, Linh, Mộc: phỏng nước, phỏng lửa

Liêm hãm, Hình, Kỵ: máu nóng sinh nhọt

Cự Môn hãm: môi thâm

Tham Xương: lang ben,
da loang lổ

8. Những bệnh về mắt: Nhật, Nguyệt chỉ cặp mắt. Nhật là mắt trái. Nguyệt là
mắt phải. Đi với sát, hình, hao, bại tinh, mắt bị bệnh từ nặng đến nhẹ.

Nhật, Kình, Kỵ ở Hợi, Tý: bị đau mắt có thể mù

Nguyệt, Riêu, Hình, Kỵ: cũng đồng nghĩa

Đà, Riêu, Kỵ: mắt kém

Phá, Vũ: hay đau mắt

9. Những bệnh về thần kinh:

Thái Dương, Thái Âm sáng sủa thường là chỉ dấu của bệnh thần kinh, biểu lộ
dưới nhiều hình thái như mất ngủ, căng thẳng tinh thần, tăng huyết áp, lo âu
quá đáng.

Nhật, Cự: ngây ngô,
hơi khùng, suy luận không bình thường. Nhật càng sáng, bệnh càng nặng.

Nhật, Không, Kiếp – Phá, Hỏa, Linh – Nhật và nhiều sao hỏa ở cung Hỏa – Phá, Kình, Đà, Hình, Kỵ: khùng và điên.

Ngoài ra, Mệnh nào có
Tang Hổ Khốc Hư Cô Quả Đẩu Quân thường u buồn, ủy mị, dồn ép.

10. Những bệnh ở chân tay,
gân cốt:

Về cơ thể, chân tay do
Thiên Mã chỉ danh. Về bệnh lý, Kình, Đà cũng có nghĩa bệnh tật liên quan đến tứ
chi.

Mã, Đà: có tật ở
chân tay

Mã, Hình: có thương
tích ở chân tay

Mã, Tuần, Triệt: trật xương, gãy chân tay

Hình, Đà: chân tay bị
yếu gân

Vũ, Riêu: tê thấp hoặc
phù chân tay

11. Những bệnh lạ:

Cơ, Hỏa, Linh: bệnh ma
làm, quỷ ám

Riêu, Hỏa, Linh: bị ma quỷ phá phách, quấy nhiễu

Sát, Hao, Mộc, Kỵ: ung thư

Bệnh Phù, Hình, Kỵ: hủi

12. Những tật:

Vượng, Kình, Đà hay Hình: lưng có tật: lưng gù, sái chiều nghiêng về phía phải
hay trái.

Mã, Đà hay Tuần Triệt: có tật ở chân tay: què, chân dài chân ngắn, tay cán xẻng,
tay lọi, chân hay tay to nhỏ không đều, có thể cụt một chân hay một tay, hoặc mất
bàn chân, bàn tay.

Việt, Đại Tiểu Hao: so vai, xệ vai, vai cao, vai thấp. Khôi, Việt gặp Hình
cũng có nghĩa này.

Tướng, Hình: có tật ở
trên đầu: đầu méo, đầu to hay thật nhỏ, đầu xói hết tóc …

Phục, Hình: nói ngọng

Tuế, Đà, Riêu, Cái: nói lắp

Vũ, Riêu, Việt, Toái: câm

Sát, Kình, Đà, Linh, Hỏa: gù lưng

Cự, Hỏa hay Linh: miệng méo

Kỵ, Riêu: sứt môi

Phượng, Kiếp, Kình: điếc

Trì, Kình: mũi sống
trâu, mũi lệch

Nhật, Nguyệt gặp Riêu, Đà hay Kỵ: mắt có tật: cận thị, viễn thị, loạn thị. Nếu gặp cả ba
thì tật nặng có thể lòa, quáng gà.

Vũ, Tướng: có ám tật,
tật kín

Cự, Nhật: hình dáng
dị kỳ

Tồn, Không, Kiếp: có ám tật mới
sống lâu.
.

CÁCH HA, NHNG SAO GÂY HA

1. Cách họa qua các sao:

a. Sát tinh: gây họa nặng
nhất. Sát tinh làm cho mất mạng, chấm dứt luôn sự nghiệp, tài sản, gia đạo, ảnh
hưởng sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực. Đối với công danh, sát tinh tiêu diệt
quý cách, chấm dứt cơ nghiệp. Đối với tài sản, sát tinh tiêu diệt phú cách. Sự
hiện diện của sát tinh ở những cung chỉ phú quý có nghĩa là đương số vừa nghèo,
vừa hèn tức là không có tài sản, không có chức phận. Đối với gia đạo, sự hiện
diện của sát tinh ở Phu Thê báo hiệu cho sự sát phu, sát thê, sự gián đoạn vợ
chồng dưới hình thức ly hôn, ly thân hoặc vợ chồng phải sống xa cách nhau lâu
năm, chưa kể các trường hợp bị ruồng bỏ vì ngoại tình hoặc đâm chém nhau vì
xung đột hay khảo của. Đối với con cái, sát tinh là dấu hiệu sự sát con, con
cái không vẹn toàn, sinh nhiều nuôi ít, hoặc bị tàn tật hoặc thuộc thành phần
côn đồ, du đãng, gây phiền nhiễu cho cha mẹ, phá tán tài sản, ăn hết di sản lại
còn mắc nợ, tạo nợ cho cha mẹ. Được xem là sát tinh có 8 sao:
Địa Kiếp, Địa Không,
Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Không, Kiếp Sát.
Càng hội tụ nhiều, càng bị hãm địa nhiều, những tai
biến và thiệt hại kể trên càng dễ xảy ra sớm, mau, nặng nề. Sát tinh tụ hội ở
cung nào thì cung đó bị ảnh hưởng nhiều nhất.

b. Hình tinh: tạo ra
hình ngục, ảnh hưởng đến tự do cá nhân, kiện cáo di lụy đến uy tín cá nhân. Gặp
hình tinh, trong trường hợp là nạn nhân, đương số sẽ bị giam cầm, tra tấn, đói
khát, hành hạ thể xác và tinh thần, có thể bị đau ốm hay tật nguyền trong thời
gian bị bắt giữ, có thể bị đầy ải ở chỗ rừng thiêng nước độc hoặc bị cầm cố ở
xà lim chật hẹp, dơ dáy. Mức độ nhẹ hơn, hình tinh là dấu hiệu của sự kiện tụng,
sự điều tra. Trong trường hợp này, uy tín, tài sản có thể bị hao hụt, chưa kể
những lo lắng cạnh tranh, thù hằn phải gánh chịu. Hình tinh là các sao:
Thiên Hình, Quan Phù,
Thiên La, Địa Võng, Thái Tuế, Quan Phủ, Liêm Trinh
(chỉ hình ngục, quan tụng một cách trực tiếp).

c. Bại, hao tinh: làm cho lụn bại, hao tán chẳng hạn như bị bệnh nan y,
bị giáng chức, mất của, hao tài, tang khó, thân nhân đau ốm, tai nạn, vợ chồng
nghi kỵ, anh em bất hòa, nhân tình ruồng bỏ. Hao bại tinh gồm có:
Tang Môn, Bạch Hổ, Đại
Hao, Tiểu Hao, Thiên Khốc, Thiên Hư.
Sát tinh
và hình tinh nhất định góp phần tăng cường hiệu lực cho hao, bại tinh hoặc là
nguyên nhân, hoặc là hậu quả của hao bại tinh.

d. ám tinh: là những
sao gây trở ngại, trục trặc. ứng dụng cho cá nhân, ám tinh có thể là vài tính nết
đặc biệt kìm hãm sự tiến thủ của con người về mặt công danh tài lộc. Trường hợp
đương số là nạn nhân, ám tinh tượng trưng cho tiểu nhân, đố kỵ, phá hoại, ganh
ghét làm cản trở bước tiến của mình. ứng dụng cho công danh, ám tinh chỉ sự cạnh
tranh trong quan trường, sự trục trặc về thủ tục, hoàn cảnh bất lợi cho thăng tiến.
Các hình thái này cũng ứng dụng cho tài lộc. ứng dụng cho gia đạo, ám tinh là sự
cản trở hôn nhân, sự phá hoại hôn nhân hoặc là sự xâm nhập của một người thứ ba
vào đời sống vợ chồng, sự bắt ghen, sự gièm pha, chim vợ/chồng người khác …
ám tinh gồm các sao:
Hóa Kỵ, Cự Môn, Phục Binh, Thiên Riêu, Thiên Không Phá
Quân, Thái Tuế, Tử Phù, Suy, Tử, Trực Phù, Tuần, Triệt, Cô Thần, Quả Tú, Tuế
Phá, Thiên Thương, Thiên Sứ
.

e. Sao trợ họa: Hầu hết sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh đều
hỗ trợ cho nhau để gây tác hại dây chuyền.

Những sao trực tiếp trợ
họa bao gồm:
Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Quyền, Quan Đới làm xấu thêm, nặng hơn.

Riêng sao Thiên Tài thì làm xấu ảnh hưởng của Thái Dương và Thái Âm miếu, vượng địa.

2. Họa cho cá nhân

a. Họa của phái nam:

+ Họa đến tính mạng hoặc cơ thể:

Không, Kiếp, Binh, Hỏa, Linh: tai nạn binh lửa. Có khi không cần phải hội đủ cả 5, chỉ
cần 3 cũng đủ (tối thiểu phải có Địa Không hoặc Địa Kiếp và Hỏa Tinh hoặc Linh
Tinh). Kiếp Không chỉ các tai nạn bất khả kháng, dữ dằn, nặng nề, thủ phạm rất
lợi hại và hung bạo, hành động bất ngờ và nhanh chóng. Phục Binh chỉ sự ám hại,
phục kích, thường có tòng phạm giúp đỡ. Hỏa hay Linh chỉ họa lửa như phỏng lửa,
chết cháy, bị bom, bị đạn, bị chất nổ … Nếu có thêm sát tinh, hình tinh, hao
bại tinh khác thì càng dễ chết. Nếu gặp trợ họa như
Tả Phù, Hữu Bật, Hóa Quyền thì họa hại càng khó tránh. May ra gặp được nhiều sao
giải mạnh mẽ hội tụ trong bối cảnh Phúc, Mệnh, Thân tốt mới khỏi, có thể chỉ bị
thương.

Phi, Việt: hội với
sát tinh, đặc biệt là
Không Kiếp Hỏa, hai sao này chỉ lằn tên mũi đạn, đặc biệt là sao Phi Liêm.
Bộ sao này thường ứng cho các tai nạn trên phi cơ hoặc họa về điện hay bị sét
đánh.

Lưu Hà hoặc Cự, Kỵ: đi với sát tinh, đặc biệt là Không Kiếp, Lưu Hà chỉ họa
ở dưới nước.

Kình, Đà: ám chỉ
thương phế nhưng đi với Không, Kiếp vẫn có thể chết. Thương phế thường xảy ra
cho tay chân. Đi với Hỏa, Linh thì phỏng ở tay chân.

Hình, Kiếp Sát: chỉ tai nạn nói chung, cụ thể là thương tích có thể
đi đến mổ, cưa. Đi với sát tinh, đặc biệt là Không Kiếp, có thể chết vì binh
đao hay vì bị mổ xẻ.

Quan Đới: đi với sát
tinh chỉ cái chết bất đắc, chết mau chóng.

Tử, Tuyệt: chỉ cái chết
nếu đi chung với sát tinh.

La, Võng: gặp sao tốt
thì thành hung, từ đó góp phần gây họa vào các hạn xấu.

Thương, Sứ: chỉ dùng để
xem hạn. Đi với sát tinh, Thương Sứ tác họa, không hẳn là họa binh đao.

Tướng, Hình – Tướng, Tuần hay Triệt: tác họa rất thảm khốc, cụ thể như chết trận, rớt máy bay,
bị phục kích, thông thường chết nát thây có khi không tìm ra xác. Bộ sao này
đóng ở Phúc, Mệnh, Thân, Tật hoặc Hạn đều nguy hại như nahu, không kém gì Không
Kiếp Binh Hỏa Linh kể trên.

Mã, Hình: báo hiệu
điềm bất tường, tai họa thảm thương.

Tướng, Binh, Tử, Tuyệt: chỉ họa binh đao hay họa chiến tranh.

Mã, Tuần hay Triệt hay Kình, Đà: chỉ thương tích tay chân do binh đao hay tai nạn.

Kình, Đà, Tuần hay Triệt hoặc Không, Kiếp: như trên.

Kiếp, Hình, Quan Đới: chết bất đắc, do mổ xẻ hoặc binh đao.

Sát, Hình hay sát tinh: bị ám sát, bị ám hại, tử trận.

Hỏa hay Linh, Kiếp, Không: tai họa rất dễ xảy ra, nhất là khi nhập hạn gặp phải.

Sát, Liêm ở Sửu Mùi – Sát, Hỏa, Hao – Phá, Hỏa, Hao – Sát
(hay Phá), Việt, Hình:
báo hiệu
tai nạn binh đao.

+ Họa ngục hình, quan tụng hại đến tự do và uy tín cá
nhân:

Thiên Hình: trừ phi đắc
địa, trừ phi đương số hành nghề cảnh sát, thẩm phán, tình báo, trạng sư, Thiên
Hình bao giờ cũng có nghĩa hình tù. Số tốt lắm thì Hình ứng về sự điều tra của
cảnh sát, của tòa án, của giám sát viện hay của cơ quan an ninh tình báo. Trong
trường hợp hành nghề thẩm phán, luật sư, cảnh sát, tình báo, tố tụng, Hình chỉ nghề
nghiệp, chức vụ, quyền hành bắt giam hay xét xử người khác hoặc kiện thưa kẻ
khác. Đi với cát tinh, hao bại tinh, ám tinh, hình tinh khác, Hình càng có
nghĩa kiện và tù và bao giờ đương số cũng là nạn nhân. Có thêm sát tinh, tù tội
nặng thêm, hình ngục khó thoát, làm cho tán mạng hay tán tài vì hình ngục. Đi với
hao bại tinh, đương số khốn quẫn về tinh thần lẫn vật chất như lo sợ hoang
mang, chán nản, tuyệt vọng, trốn tránh, mai danh ẩn tích mà lúc nào cũng sợ bị
bắt, hoặc phải nuôi chí trả thù mà khổ sở. Cũng có thể hao bại tinh có nghĩa là
trong thời gian thọ hình, đương số phải chịu nhiều cực hình như tra tấn, bỏ đói,
hành hạ, đầy ải, mắc bệnh nan y.

Liêm Trinh hãm địa: chỉ sự bắt bớ, giam cầm, ở tù. Dù hành nghề gì mà Mệnh,
Thân, Quan có Liêm hãm thì vẫn có thể bị hình tù như thường. Do đó, Liêm Trinh
hãm địa ác hiểm hơn Thiên Hình nên đi với sát tinh rất dễ bị tù, bị kiện: Liêm,
Kình, Đà, Linh, Hỏa – Liêm Hổ – Liêm, Kiếp, Hình ở Mão, Dậu – Liêm, Tham ở Tỵ
và Hợi – Liêm, Kình – Liêm, Cự, Kỵ. Tuy nhiên, trường hợp Liêm Tham ở Tỵ và Hợi
có Hóa Kỵ hay Tuần, Triệt đồng cung sẽ hóa giải hình tù của Liêm.

Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ: chỉ bị kiện, bị điều tra, bị chỉ trích, bị vu cáo, bị
nói xấu. Đi với sát tinh, khó tránh tù hay thanh toán vì tư thù, thưa kiện rất
lôi thôi. Quan tụng liên hệ đến ba sao này thường là tội lường gạt, bội tín, quỵt
nợ, sang đoạt. Quan Phù, Quan Phủ chỉ sự phản bội, sự lợi dụng lòng tin, sự xé
lẻ, rã đám. Thái Tuế chỉ khẩu thiệt, cãi vã, chửi bới, chỉ trích, bút chiến,
công kích.

Thiên La, Địa Võng: chỉ sự bắt bớ, giam cầm hoặc tối thiểu cũng gây trở ngại
cho công việc, kìm hãm sự thăng tiến. Hình tụng, kiện tụng chỉ có khi La Võng
đi kèm với sát hay hình tinh trong cục diện Mệnh, Thân xấu.

Hóa Kỵ: có nghĩa
kiện tụng. Chất của Hóa Kỵ là ganh ghét, ích kỷ, đố kỵ, nói cấu, vu khống để
hãm hại người khác một cách tiểu nhân, nhỏ mọn. Quan tụng của Hóa Kỵ tương tự
như Thái Tuế. Đi với Thái Tuế, Hóa Kỵ luôn nói xấu thiên hạ, ngồi lê đôi mách,
đưa đến đôi co, đối chất, kiện thưa vì ngôn ngữ bất cẩn.

Đà La: chỉ sự
ngoan cố, ngỗ ngược, bướng bỉnh, hẹp hòi, câu chấp và có ý nghĩa kiện tụng. Đặc
biệt đi với Kỵ, Tuế thì quan tụng rất rõ. Có Đà La, thua kiện cũng không đầu
hàng, còn tìm cách chống án, chạy chọt, vận động cho được phần hơn.

Cự Môn hãm địa (ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi,
Tỵ
): có ý nghĩa kiện cáo, nhất là đi chung với Hóa Kỵ,
Thiên Hình hoặc sát tinh, ý nghĩa giống như Hóa Kỵ.

Cách kiện tụng và ngục
hình còn do một số bộ sao dưới đây quảng diễn:
Xương, Khúc ở Tỵ và Hợi – Xương, Khúc, Phá ở Dần – Nhật,
Nguyệt, Riêu, Đà, Kỵ – Binh, Kỵ, Hình – Binh, Phù, Hình.

+ Họa sắc dục:

Nếu cung Phúc có Tang Môn, Đào Hoa, Hồng
Loan và Thai
thì dòng họ
có người chết vì thượng mã phong.

Nếu 4 sao đó đóng ở Mệnh,
Thân hoặc Tật thì họa đó xảy ra cho mình.

Họa bị đánh đập vì đam
mê tửu sắc có ba bộ sao:
Tham, Đà ở Tý – Tham, Đà ở Dần – Tham, Vũ đồng cung gặp
Phá
.

Đau khổ vì tình: Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên
Khốc, Thiên Hư, Lưu Tang, Lưu Hổ, Lưu Khốc, Lưu Hư.

Ngăn trở ái tình: Phục Binh, Hóa Kỵ, Cự
Môn, Thiên Không, Kình Dương, Đà La hãm địa, Tuần, Triệt.

Sao chỉ sự phản bội: Quan Phù, Quan Phủ, Thái
Tuế.

Sao chỉ sự xui xẻo: Địa Không, Địa Kiếp,
Thiên Hình

Sao thay cũ đổi mới: Thiên Mã, Thiên Đồng, Đại
Hao, Tiểu Hao, Thai.

b. Họa của phái nữ:

+ Họa trinh tiết:

Thai, Phục, Kiếp hay Không: chỉ sự hiếp dâm, có thể là hiếp tập thể.

Thai, Phục – Thai, Kiếp hay Không – Riêu, Phục – Riêu,
Không, Kiếp – Tham, Phục – Tham, Không, Kiếp -Đào, Phục – Đào, Không, Kiếp –
Đào Riêu, Không, Kiếp – Đào, Thai, Không, Kiếp:
thất trinh thất tiết.

Đào, Riêu: lăng loàn,
đàn bà ngoại tình, có khi không phải với một người. Hồng Loan, Riêu cũng có
nghĩa tương tự.

Đào, Thai: tiền dâm hậu
thú.

Đào, Thai, Riêu: gái giang hồ.

Cự, Kỵ hay Tham, Kỵ: ám chỉ sự mất trinh, sự bất hạnh trong tình ái.

Thai, Hình, Hỏa, Tang, Hổ, Kiếp: chỉ sự hiếp dâm đi liền với án mạng, tượng trưng cho sự
thanh toán vì tình, sự trả thù của tình nhân ác độc.

3. Họa cho nghề nghiệp:

a. Cách chức, thôi việc:

Tuần, Triệt ở cung Quan: trắc trở cho quan trường bằng nhiều hình thái: chậm công
danh, công danh vất vả, thấp kém, không bền vững, thăng giáng thất thường. Sao
Triệt báo hiệu sự gãy đổ ít nhất một lần trong sự nghiệp. Sao Tuần tác họa nhẹ hơn
nhưng lâu dài hơn. Gặp cả Tuần, Triệt đồng cung thì tai họa nghề nghiệp vừa nặng,
vừa nhiều. Tuy nhiên:

– Tuần, Triệt gặp Âm,
Dương ở Sửu, Mùi thi không phá mà làm vượng quan.

– Tuần, Triệt gặp Sát,
Phá, Liêm, Tham hãm tối hay bại tinh mờ ám cũng làm vượng quan.

– Tuần, Triệt gặp Tử, Phủ,
Cự, Nhật, Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương sáng sủa thì bất lợi cho chức vụ rất nhiều
như chậm quan, chóng tàn, gặp hung họa, thăng giáng thất thường. Nếu tám sao
trên mà hãm địa thì khá hơn, tức là gặp khó khăn, thất thường trong việc thăng
tiến nhưng tựu chung có chức vị khá lớn, nhất là về sau.

– Tuần, Triệt gặp Sát,
Phá, Liêm, Tham đắc địa cũng còn đỡ khổ, không đáng lo ngại về sự thăng giáng
hay gãy đổ sự nghiệp. Nếu hãm địa thì lại đẹp: công danh bộc phát mạnh mẽ.

Cung Quan vô chính diệu cần
có Tuần, Triệt trấn thủ tại đó mới hay
. Bằng không thì dễ sa sút. Nếu chính tinh xung chiếu
mà sáng sử thì còn khá, ngược lại nếu mờ tối thì bất lợi.

Thiên Tướng gặp Tuần, Triệt thì dù được đắc địa, quan chức không những bị truất giáng
mà còn dễ chết thảm khốc. Tướng Quân gặp Tuần, Triệt cũng lâm vào họa hại như
thế.

Không, Kiếp: chỉ sự
thăng trầm, lên voi xuống chó. Hãm địa thì càng nguy, chắc chắn phải ít ra một
lần mất chức nhục nhã, bị đổi đi xa vì kỷ luật, chưa kể những hung họa dẫy đầy,
dễ chết vì binh lửa, chiến nạn. Như vậy, sự gián đoạn chức vụ có thể bắt nguồn
từ hai nguyên nhân bị chết hoặc bị cách chức. Còn những họa nhỏ khác như vất vả,
đè nén, đố kỵ thì khỏi kể. Tai họa công vụ của Không Kiếp cũng còn do tật xấu của
chính mình. Người có Không Kiếp có lá số xấu thường xử xự bằng thủ đoạn, bá đạo,
ám muội, phi pháp, kiểu như tham lận, cướp của, hối lộ, tham nhũng, buôn lậu,
biển thủ đưa đến việc mất chức.

Thiên Hình, Thiên Tướng, Tuần, Triệt: Hình hãm địa ở Quan có nghĩa gián đoạn công vụ vì bị ngục
tụng, những tai bay vạ gió làm cho viên chức phải bị liên lụy trong quan trường,
chẳng hạn như bị khiển trách, bị điều tra, bị ngưng chức, bị truy tố, bị sa thải.
Nếu đi với sát tinh, dễ bị hình tù vì Thiên Hình chỉ hình phạt, bằng kỷ luật hay
bằng tòa án. Cho dù Hình gặp Tuần hay Triệt, ngục tụng cũng khó tránh. Cũng đồng
nghĩa đó nếu Hình đi với Thiên Tướng ở cung Quan. Nếu có thêm Thiên Khôi, sẽ có
thể bị mất đầu. Những họa nói trên sẽ tránh được nếu đương sự bị đau phải mổ
hay bị chết nhưng dù sao, Tướng Hình Khôi ở Quan bao giờ cũng đập nặng vào chức
vụ: Thiên Hình ở Quan là hình thương đến công vụ. ý nghĩa này vẫn tồn tại nếu
Hình đi chung với Liêm Trinh; với Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ; với Hóa Kỵ; với
Cự Môn hãm địa …

Hóa Quyền, Thiên Hình hay Tuần, Triệt: Hóa Quyền tượng trưng cho quan tước, gặp Hình hay Tuần,
Triệt thì có gián đoạn công vụ, thông thường là bị bãi nhiệm, bị đổi chỗ hoặc
phải thôi việc. Nếu có chức phận cũng không giữ được lâu bền, phải từ bỏ vì một
nguyên nhân nào đó. Những sao đồng nghĩa với Hóa Quyền mà gặp một trong ba sao
này cũng rơi vào tai họa tương tự. Đó là các bộ sao: Quốc ấn, Thiên Hình hay Tuần,
Triệt; Phong Cáo, Thiên Hình hay Tuần, Triệt; Thái Dương hãm, Thiên Hình hay Tuần,
Triệt. Thông thường, ý nghĩa mất việc chỉ rõ ràng nếu bộ sao này đóng đồng cung
ở Quan, nếu chỉ hội chiếu thì việc mất chức không rõ ràng lắm, có thể là tự ý
thôi việc. Một số quý tinh khác như Thai Phu, Đường Phù gặp Tuần, Triệt hay
Hình không đến nỗi nặng lắm, có thể có nghĩa như hụt thăng trật, hụt huy chương

Tuế, Đà, Kỵ: hội ở cung
Quan chỉ mọi sự xui xẻo liên tiếp do sự tố cáo, chỉ trích, vu khống, xuyên tạc,
đố kỵ, cạnh tranh làm cản trở bước tiến quan lộc, từ đó có thể đưa đến sự thôi
việc, sự thay đổi công việc. Vì có Đà La, bộ sao này cho thấy có sự tranh cãi,
gây lộn, ăn thua, khiếu nại, có khi ẩu đả giữa đồng nghiệp, xô xát với cấp chỉ huy
để rồi cuối cùng gián đoạn công vụ.

b. Đè nén, đố kỵ

Phục Binh: điển
hình cho sự hãm hại bằng thủ đoạn ngầm, sự đố kỵ, ghen ghét giữa đồng nghiệp
hay giữa mình với cấp chỉ huy. Phục Binh còn có nghĩa âm mưu, kết bè, kết phái
để đào thải, loại trừ đối thủ, có khi tổ chức phục kích, ám sát, thanh toán hoặc
gài đương sự vào chỗ chết, chỗ kẹt, chỗ bị án, bị tù, bị quy trách. Thông thường,
Phục Binh hay sử dụng mánh lới, thủ đoạn bất chính và bí mật để phá hoại đồng
nghiệp, có khi liên kết với tòng phạm, bè cánh, tổ chức. Nếu có Tả Phù, Hữu Bật
đi kèm thì nạn nhân phải chạm trán với cả một hệ thống chằng chịt bao gồm nhiều
tay sai ở nhiều ngõ ngách, muốn khiếu nại cũng không được như ý, nhiều khi chẳng
đi đến đâu.

Hóa Kỵ: chỉ đó kỵ,
ganh ghét, cạnh tranh bằng thủ đoạn gièm pha, thêm bớt, thọc gậy. Hóa Kỵ là người
bị nghi ngờ, bị theo dõi, bị để ý. Đi chung với Phục Binh, sự đố kỵ có tính
cách ám hại, tầm thù, chẳng những bằng lời nói mà còn bằng hành động. Đi với
Thiên Hình, Hóa Kỵ dễ sinh quan tụng, thưa gửi, khiếu nại, điều trần, cảnh cáo,
khiển trách, ẩu đả lẫn nhau. Chỉ trừ khi đi với Thanh Long mới đẹp.

Thiên Không: chỉ phần tử
lưu manh trong công/tư sở, chuyên môn phá hết kẻ này đến người khác, thọc gậy bánh
xe, cản trở bước tiến của đồng nghiệp với ác tâm, có tà ý, âm mưu phá hoại. Bị
Thiên Không, viên chức khó lòng ngóc đầu lên nổi, bị khép trong kỷ luật, khống
chế, mình làm mà thiên hạ hưởng, bị cấp trên hay cấp ngang cướp công.

Đà La, Kình Dương: chỉ sự ngăn trở quan trọng vì ganh đua, cạnh tranh
gay gắt. Tại vị trí hãm địa, đương số là nạn nhân của chia rẽ, phân hóa trong
nghề nghiệp, làm việc nặng nhọc, gánh trách nhiệm mà bị tội vạ, hiểu lầm, khiển
phạt. Những bạc bẽo của nghề thường do hai sao này quảng diễn.

Cự Môn hãm địa: đồng nghĩa với Hóa Kỵ nhưng nặng nề hơn. Con người Cự
Môn cũng như Hóa Kỵ lúc nào cũng bất mãn, mưu tìm sự canh cải theo ý mình,
không bảo thủ mà đấu tranh thay đổi thành phần bảo thủ. Nếu đắc địa thì việc đấu
tranh có cơ hội thành công, trái lại, Cự Kỵ sẽ là nạn nhân của thái độ cấp tiến
của mình, gánh lấy hậu quả của sự kìm chế, đè nén, cô lập. Đi chung với các sao
ám khác như Thiên Không, Kình Dương, Đà La, Phục Binh, là những người hay kết
bè kết đảng để đấu tranh. Nếu có sát tinh đi kèm thường có đổ máu, hình ngục,
thanh toán, trả thù qua lại.

Tuế, Đà, Kỵ: tượng
trưng cho những xui xẻo liên tiếp trong quan trường, trong nghề nghiệp, trong
đó có sự đè nén, thị phi, gièm pha, đố kỵ.

Đại Hao, Tiểu Hao: đi chung với quyền, quý, dũng tinh, Nhị Hao thường chỉ
sự sa sút hậu thuẫn, sự sút kém tín nhiệm, sự mất mát thế lực. Viên chức có
Song Hao ở Quan, ngoài ý nghĩa hư danh, hư quyền, bị tổn thương uy tín, thất sủng,
từ đó làm việc gì cũng không lâu bền, ở với ai cũng khó hòa hợp, có thể ngồi
xơi chơi nước hay được giao những công việc chạy vặt, liên lạc, kém quan trọng.
Về mặt tâm lý, Đại Tiểu Hao ở Quan còn chỉ những người đứng núi này trông núi nọ,
bất mãn không khí đang sống, lúc nào cũng chực hờ, tìm chỗ tốt, chỗ bở, hay
thay đổi chức vụ mà chũng chẳng hiển vinh gì bao nhiêu. Tính tình của Nhị Hao
thường bất nhất, không bền chí, không kiên tâm tiến thủ trên cái gì đã có mà chỉ
lo đổi chỗ để tìm lợi lộc, tìm thăng tiến. Nếu được đắc địa thì Nhị Hao có lợi
hơn về mặt tài lộc, kinh nghiệm.

Thiên Khốc, Thiên Hư hay Tang Môn, Bạch Hổ: Trừ phi đắc địa ở Tý Ngọ, Khốc Hư ở Quan biểu tượng
cho những ưu tư, lo buồn, hoang mang, sợ sệt khi hành nhiệm. Ngoài ra, còn có đặc
tính bị khinh ghét, chê bai vì bất lực, bất hòa. Người có Khốc Hư ở Quan không
thoải mái trong công việc, phải quan tâm lo lắng nhiều mối, vì nhiều lý do, có
khi phải gánh chịu nhục nhã, xấu hổ bởi tai tiếng, bởi thị phi. Nếu đắc địa,
các sao này chỉ uy tín và hoạt động chính trị cũng như năng tài hùng biện, giáo
khoa, tâm lý chiến.

c. Bất dụng, sai dụng, thiểu dụng:

Lực Sỹ, Kình Dương: tượng trưng cho sự bỏ quên, việc ngồi chơi xơi nước, việc
nghỉ giả hạn. Lực Sỹ chỉ tài năng, sự tháo vát, linh hoạt, lanh lợi đồng thời
cũng ám chỉ thành tích, công lao, chiến tích. Kình Dương chỉ sự ngăn cản, trở lực,
trục trặc trong công danh. Cả hai hội ý chỉ sự thi thố không hết mức tài năng,
sự đãi ngộ bất xứng với thành tích, sự thiểu dụng, từ đó nảy sinh sự bất mãn, bất
đắc chí. Kình Lực không nhất thiết ngụ ý người có tài mà lắm khi ngụ ý người tự
cho rằng mình có tài, vì bị bạc đãi nên bất mãn. Kình Lực đôi khi chỉ tham vọng,
sự cậy tài, sự ỷ lại quá đáng làm cho quần chúng ghét bỏ, xa lánh.

Thiên Mã, Tràng Sinh ở Hợi: Thiên Mã thông thường chỉ tài năng. Gặp thêm Tràng Sinh
là có cơ may tiến đạt. Nhưng hiềm vì ở cung Hợi cho nên năng tài này bị chìm
trong bóng tối. Đây là hạn người kém may, không có cơ hội thi thố được, hoặc chỉ
có danh mà không có quyền, chỉ có hư vị hơn là thế lực, hoặc bị đặt vào chỗ tượng
trưng để lợi dụng uy tín chứ không phải để hành sử quyền binh. Công lao của Mã
Sinh ở Hợi thường chỉ ở trong bóng mờ, hay bị người khác lấn át. Nếu gặp Phục
Binh, ngụ ý người có tài mà bị ruồng bỏ, bị gièm xiểm, bị đào thải …

Thiên Mã, Tuần, Triệt: không chỉ tai nạn xe cộ mà chỉ sự bất dụng, sự thiếu may
mắn trong nghề nghiệp, làm cái gì cũng thất bại, tai ương, xui xẻo khiến cho
thượng cấp mất dần tín nhiệm, không dám giao phó đại sự. Cho nên, công danh của
Mã, Tuần, Triệt tương đối nhỏ.

Lộc Tồn, Tuần, Triệt: Lộc Tồn cũng chỉ tài năng như Thiên Mã, đặc biệt là tài
tổ chức, quyền biến, khai sơn phá thạch, có nhiều sáng kiến giải quyết mọi việc.
Gặp Tuần Triệt, tài năng, cơ may bị tiêu tán. Đó là trường hợp những người bị
thiểu dụng, bị uổng dụng, bị sai dụng.

Thiên Tài: đi chung với
Nhật, Nguyệt sáng sủa sẽ làm mất đi sự tốt đẹp, làm giảm ánh sáng của Nhật,
Nguyệt. Đó là trường hợp tài năng thiếu cơ hội. Tại cung Quan vắng bóng những
sao trợ quyền, những sao may mắn thì tài năng thường cô độc, thiếu người công lực,
nâng đỡ, thiếu may mắn của thời cuộc. Đó là những sao
Ân Quang, Thiên Quý, Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Quan,
Thiên Phúc, Thanh Long-Lưu Hà, Thanh Long-Hóa Kỵ, Thiên Mã-Tràng Sinh (trừ ở Hợi),
Bạch Hổ-Phi Liêm, Tràng Sinh-Đế Vượng, Thiên Hỷ-Hỷ Thần, Tứ Linh, Tam Hóa …

4. Họa cho tài sản: thường hay xuất hiện ở hai cung Điền và Tài, ở những
cung chiếu Điền (Tử, Tật, Bào), chiếu Tài (Phúc, Quan, Mệnh), cung Thân và các
cung Hạn.

a. Những đại họa tài sản:

Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: trong bối cảnh một cung Điền hay cung Tài xấu vì chính
tinh hãm địa, sự hiện diên của 1 trong 2 sao hoặc của cả 2 sao này báo hiệu hiểm
họa lớn lao cho tài sản, họa lớn, có tính chất bất khả kháng, ảnh hưởng đến nhiều
người cùng một lúc. Có thể hình dung Không Kiếp như một tai họa chiến tranh làm
tiêu tán tài sản, nạn lạm phát đồng tiền, thiên tai lớn, hành vi pháp lý của
Nhà nước có hậu quả nặng nề đến cuộc làm ăn của toàn dân, việc quốc hữu hóa các
công ty thương mại … Mặt khác, Không Kiếp còn có thể tượng trưng cho sự cướp
của, sự hủy hoại tài sản cá nhân, sự đốt nhà, phá hoại hoa màu … Nếu hội với
sao xấu như Phá Toái, Kiếp, Sát thì hệ số họa sẽ lên cao, nguy hiểm nhiều hơn.
Càng hội tụ nhiều, số lượng càng chồng chất, họa vô đơn chí.

Thiên Không: hậu quả của
Thiên Không trên tài sản cũng gần tương đương như Địa Không, nhất là khi tọa thủ
ở Tài, Điền và nhất là khi gặp thêm hạn xấu. Hội với Địa Không, Địa Kiếp, sức
tác họa càng dữ thêm, có hại đến cả sinh mạng. Thông thường, Thiên Không rơi
vào cung hạn thì tác họa mạnh mẽ hơn bình thường: các dự định đều thất bại, sự
nghiệp sa sút, mua bán thua lỗ, mất của thường do lường gạt, lừa đảo, có khi vướng
vào tù tội.

Tuần, Triệt đồng cung ở Điền, Tài: dù Điền hay Tài có chính tinh hay không, có cát tinh đi
nữa thì cũng không quân bình được bất lợi của cả Tuần lẫn Triệt đồng cung. Hai
sao này hợp nhất phối hợp phá hoại tài sản đến cùng. Gặp chúng, cá nhân không
có di sản, dù có cũng bán hết hoặc không thể thụ hưởng, thường phải tự lực lập nghiệp
nhưng có rồi lại dễ mất ngay vì họa, hoặc vì túng thiếu. Đây là bộ sao điển hình
của vô sản.

Kình Dương, Đà La hãm địa: cũng báo hiệu họa tài sản, dưới hình thức phá tán tổ nghiệp,
điền trạch cũng như tiền bạc. Đi với Không, Kiếp, Thiên Không, ý nghĩa họa càng
chắc chắn hơn và họa nhất định nặng hơn. Đặc biệt vào cung hạn, nếu Kình Đà gặp
Lưu Kình, Lưu Đà thì họa đến mau chóng và khủng khiếp. Nếu Kình Đà và hai sao
Lưu lại tọa thủ hoặc xung chiếu vào Điền, Tài thì họa vào sản nghiệp hiện có
thay vì di sản.

Hỏa Tinh, Linh Tinh: chỉ riêng mối họa lửa, dù Hỏa Linh đơn thủ hay hội họp
với sát hao tinh khác. Hai sao này đi chung với một số sao khác cũng mang ý
nghĩa tương tự như: Hỏa Kiếp Cơ, Hỏa Tang, Linh Hình Việt, Phi Hỏa, Cự Hỏa, Cơ
Hỏa, Hỏa Linh Tướng Binh. Chỉ riêng bộ sao Hỏa Tướng Binh hay Linh Tướng Binh
có nói ít nhiều đến nguyên nhân hỏa hoạn: đó là việc gian phi đốt nhà, đốt ruộng,
đốt hoa màu, hàng hóa.

Lưu Hà: thủy họa đối
với tài sản, đi chung với Địa Không, Địa Kiếp chỉ tại họa lớn: nước lụt đắm
tàu, hoa màu úng thủy, hàng hóa bị ngập nước …

Đại Hao, Tiểu Hao: Trừ phi đắc địa ở Mão, Dậu (có tiền của dồi dào), Nhị
Hao bao giờ cũng phá tán của cải, hao hụt điền sản thường là do cái đà ăn xài
quá lớn không kìm hãm được nữa. Song Hao ở Điền, Tài thường xuyên có chuyện tốn
kém, lớn có nhỏ có và liên tiếp. Sự hao tán của bộ sao này gần như triền miên. ở
Điền, Nhị Hao ngụ ý phải lo “một kiểng hai huê”. ở Tài thì luôn luông
có chuyện phải tiêu lớn, tiêu nhỏ. Nếu Thiên Không tối kỵ ở cung Quan thì Nhị
Hao tối kỵ ở cung Tài và cung Điền. Ngoài ra, về bệnh tật, Nhị Hao phải tốn vì
một bệnh trầm kha, tái đi tái lại nhiều lần, thường là bệnh về bộ máy tiêu hóa
tương đối nặng.

Tướng, Binh, Kiếp hay Không: chỉ họa cướp của. Đóng ở Điền, Tài, đương số sẽ bị cướp
đến khảo của, phá nhà, tống tiền, có thể bị thanh toán. Nếu có thêm Tả Hữu thì
thường có nội gián, tòng phạm lâu la đông đảo. Bộ sao này cũng nói lên trường hợp
bị cưỡng bách đóng thuế bằng cách hành hung, đe dọa sinh mạng hoặc bắt cóc đòi tiền
chuộc. Trong trường hợp có bắt cóc tống tiền thì thường có Thiên Hình đi kèm.

b. Những tiểu họa tài sản:

Phục Binh: điển hình
cho sự mất trộm. Cung Điền, Tài bị sao Binh trấn đóng hay hội chiếu thường bị
người khác lấy của bằng cách trộm, lừa đảo, ăn chặn, quỵt hụi, trốn nợ, giựt đồ,
móc túi … Có khi tai họa không do thủ phạm mà do sơ xuất của chính mình, dù
sao cũng là sự mất mát ngoài ý muốn của sở hữu chủ.

Binh, Tả, Hữu: có tòng phạm
giúp đõ, chỉ dẫn, dụ dỗ, đánh lừa để lấy đồ bằng mưu chước xảo quyệt. Có khi Tả
Hữu còn chỉ tôi tớ trong nhà, làm nội ứng chỉ điểm cho gian phi, hoặc chính người
giúp việc trộm cắp của chủ nhân. Bộ sao này cho thấy việc đánh cắp có tổ chức,
có kế hoạch.

Thiên Không: đứng riêng
rẽ, sao này chỉ tên lưu manh, gian hùng, xảo quyệt, có nghĩa tương tự như Phục
Binh. Nếu cả hai cùng hội tụ thì đây là cách gian phi họp đang, tác họa nhiều
hơn.

Quan Phù, Thái Tuế, Quan Phủ, Hóa Kỵ: chỉ hao tài sản do sự lường gạt, phản bội, hoặc do kiện
tụng mà hao hụt của cải, kiện tụng về tài sản cụ thể như bị xử ép, chia của
không sòng phẳng, thanh toán không phân minh.

ứng vào điền sản, những
sao này cho thấy phải có tranh chấp về đất đai, ruộng vườn, phải tốn tiền vì điền
thổ mới có của, phải kiện thưa mới đuổi được người cư ngụ bất hợp pháp mới cất
được nhà. Cũng có thể nhà, đất của mình không có lai lịch phân minh, bị tố tụng,
thưa kiện và có khi thất kiện phải mất đất, trả nhà.

Thiên Hình: ở Điền,
Tài, sao này chỉ họa của người bị bắt giam vì tài sản, bị họa lụy vì tiền bạc
hoặc nếu là điền sản thì có thể bị tịch thu, tịch biên. Đây là trường hợp những
người bị bắt để đổi tiền chuộc mạng, của bọn khảo của, tống tiền, thu thuế bằng
bạo hành, đe dọa. Nếu đương số làm nghề tài chính, thì Hình sẽ ứng vào các vụ
biển thủ, quản lý sơ suất để mất tiền phải bị ra tòa, đền tiền. Nếu ở cung Điền,
nhà đất dễ bị tịch thu, sai áp, niêm phong do một án tiết cá nhân, có liên quan
đến của cải bất hợp pháp hoặc đến uy thế chính trị suy sụp. Nếu ứng vào cơ thể
có nghĩa thương tích thì ứng vào điền trạch cũng có nghĩa bế tỏa như vậy. Bị
Thiên Hình, cơ xưởng, làm ăn có thể bị sai áp, quốc hữu hóa, trưng dụng, trưng
thu. Nếu có thêm sát tinh khác, đây có thể là đại họa.

Điếu Khách, Văn Xương, Văn Khúc: chỉ họa hao tài vì đánh bạc, thông thường có đi đôi với
Song Hao, hoặc Khốc Hư, Tang Hổ, Xương Khúc thì thỉnh thoảng có đỏ đen, còn Điếu
Khách thì máu cờ bạc quá nặng đến nỗi trở thành tập quán khó chừa, lấy đổ bát
làm sinh kế và chắc chắn cũng vì đổ bát mà tán tài, tán điền.

Hỏa, Linh với Song Hao: họa tài sản bắt nguồn từ bệnh nghiện thường là nghiện
á phiện, ma túy, rượu, rất nguy kịch cho của cải và sức khỏe. Không cần gì phải
có cả Hỏa và Linh với Song Hao, chỉ cần Hỏa hay Linh cũng đủ.

Đào, Hồng với Song Hao: họa tài sản do gái/trai tạo ra. Đây là hoàn cảnh của các
chàng hào hoa bị dại gái bị lừa gạt, phải chi khá nhiều để chu cấp cho gái hoặc
phụ nữ mê trai cũng chu cấp cho các chàng thất nghiệp. Đào Hồng ở Tài, Điền thì
phải tốn tiền ít nhiều cho tình nhân, nếu có Song Hao thì chi phí lớn theo tỷ lệ
túi tiền của nạn nhân.

5. Họa cho gia đạo:

a. Tình trạng không chồng, không vợ:

– cung Phúc có những
chính tinh hãm địa, đi chung với những sao tình duyên bị sát tinh xâm phạm.

– cung Phu Thê cũng gặp
phải nghịch cảnh này, nhất là bị sát tinh tọa thủ đồng cung với các sao tình
duyên hoặc là được các sao tình duyên hội chiếu vào sát tinh tọa thủ ở Phu Thê.
Càng có nhiều sát tinh, nhất là sát tinh hạng nặng tọa thủ hay hợp chiếu thì
triển vọng lập gia đình càng giảm. Ngoài ra, hai sao Tuần Triệt ở Phu Thê nhất
là đồng cung cũng góp phần xác định ý nghĩa này.

Nếu cả Phúc lẫn Phu Thê
đồng thời gặp nghịch cảnh thì dễ đoán việc vô gia đình (đặc biệt là với lá số nữ
giới).

Nếu Mệnh, Thân có hao bại
tinh (Tang, Hổ, Cô, Quả, Đẩu Quân, Khốc, Hư, Đại Tiểu Hao) thì phải xem đó là một
yếu tố bổ túc để quyết đoán thêm trường hợp độc thân bắt buộc.

Cung Tử tức có nhiều sao
hiếm muộn, tuyệt tự, lập tự.

Vòng đại hạn đi theo chiều
thuận tức là ngày càng xa cung Phu Thê. Đây là một yếu tố bổ túc phải lưu ý. Nếu
đi theo chiều nghịch thì vào khoảng 30 tuổi trở đi, vấn đề gia đạo dễ xảy ra
hơn vào khoảng thập niên 32 trở đi vì tại đó cung Phu Thê trấn ngự, ngụ ý có sự
chi phối khá mạnh, sự thúc đẩy khá lớn, sự quan tâm đặc biệt của con người về vấn
đề gia đạo.

Sự lạc vị của những sao
tình duyên: nếu các sao đó đóng ở Tật, Tử, Bào, Phụ, Điền thì cái duyên bị đặt
sái chỗ, không lợi cho sự sum họp.

b. Tình trạng giang hồ, lãng tử:

– sự hiện diện của rất
nhiều sao tình dục ở cung Mệnh, cung Thân: Thiên Riêu, Thai, Mộc Dục, Hoa Cái,
Đào Hoa, Hồng Loan, Liêm Trinh, Tham Lang …

– sự hiện diện của những
sao này ở cung Nô chỉ con người đó rất sa đọa, trụy lạc, ăn chơi, đàng điếm,
không kể dư luận, đạo đức.

– sao khắc chế tình dục
không có hoặc không đủ mạnh ở các cung Mệnh, Thân.

– đối với phái nữ, sao
tình dục có đi chung với sao tài, ngụ ý rằng tiền bạc kiếm được bằng nhan sắc,
bằng hương phấn.

– cung Phu Thê bị Tuần,
Triệt đồng cung hoặc 1 trong 2 án ngữ, tiên niệm sự trục trặc, sự bất hạnh về
gia đạo hoặc sao cô độc như Cô, Quả, Đẩu, Quân.

– cung Phu Thê có nhiều
sao chỉ sự thay đổi cụ thể như Thiên Đồng, Thiên Mã, Đại Hao, Tiểu Hao, ngụ ý
đương số thường thay đào đổi kép.

– riêng số phụ nữ còn có
những bộ sao nói lên họa trinh tiết

– cung Mệnh, cung Thân của
hai phái có nhiều sao nói lên tính nết lãng tử, giang hồ, ham vui, chóng chán,
thích thay đổi, phiêu lưu tình cảm.

– cung Phúc có nhiều sao
bất hạnh về gia đạo.

c. Tình trạng hôn nhân trắc trở:

Phục Binh: nếu đóng
hay chiếu vào cung Phu Thê, chỉ sự cản trở. ở vị trí tọa thủ, sự cản trở mạnh mẽ
hơn, gây trở ngại lớn hơn ở vị thế hội chiếu. Sao này tượng trưng cho sự đổi ý
của người con trai hay con gái, sau khi yêu nhau rồi mới khám phá những chỗ kẹt,
chỗ ngang trái khiến không thể lấy nhau. Nó cũng tượng trưng cho sự chống đối mạnh
mẽ của cả hai bên nhà trai nhà gái hoặc của một bên và sự chống đối này do cha
mẹ chủ xướng, tức là những người có quyền quyết định tối hậu cuộc tác thành. ở
vị thế hội chiếu, có thể ban đầu chống đối rồi sau cũng thuận cho.

Hóa Kỵ: ý nghĩa
tương tự như Phục Binh nhưng nhẹ hơn. Hóa Kỵ ở Phu Thê thường là sự bất hòa giữa
hai họ để rồi trai gái phải xa nhau, bắt nguồn từ những câu nói vụng về của nam
hay nữ hoặc của họ bên này chê bai họ bên kia hoặc cũng có thể bắt nguồn từ một
đệ tam nhân ngoại cuộc vụng lời, thêm bớt.

Cự Môn: dù đắc hay
hãm địa, Cự Môn ở Phu Thê bao giờ cũng khó khăn dài dài, trước khi lấy nhau và
sau khi thành hôn. Cự Môn chủ đa nghi: bên nọ nghi ngờ bên kia, thôn tính con
dâu hoặc sắp xếp cho con mình vào tròng để lợi dụng. ở vị trí đắc địa, sự việc
có thể tiền hung hậu kiết nhưng ở thế hãm địa thì có thể tiền hậu đều hung.

Thiên Không: chỉ sự cản
trở, chủ yếu là do sự bố trí có thủ đoạn của một bên cho bên kia mắc kẹt. Trò
chơi của Thiên Không rất nguy hiểm, nếu có thêm sao xấu đi kèm, hôn nhân rất nhạy
rã đám.

Thiên Hình: ở Phu Thê,
Hình báo hiệu sự hình thương gia đạo, có thể là sự trắc trở hôn nhân buổi đầu.
Mặt khác, vì Hình chỉ sự xét nét quá tinh vi cho nên ngụ ý rằng có một bên tính
kỹ quá, đòi hỏi điều kiện chặt chẽ, khó khăn khiến bên nọ không với tới làm cho
hôn nhân bị hỏng hoặc trì trệ kéo dài. Cuộc thương thuyết có Thiên Hình hẳn phải
hết sức gay go và đầy cạm bẫy.

Khốc, Hư, Tang, Hổ: hai trẻ phải nhiều lần điêu đứng, rơi lệ, đau khổ, phải
đấu tranh cho sự hòa hợp bằng nước mắt. Nếu có cả 4 sao thì 4 dòng lệ đều chan
hòa, duy có riêng một sao cũng mệt sức lắm rồi. Trong một ý nghĩa khác, 4 sao
này còn có nghĩa là cưới xin trong tang khó.

d. Tình trạng gia đạo bất hòa:

– cung Phu Thê phải có
hao bại tinh, ám tinh, hình tinh, cụ thể là Cự Môn, Phục Binh, Hóa Kỵ, Thiên
Hình, Thiên Khốc, Thiên Hư, Tang Môn, Bạch Hổ.

– cung Phu Thê phải có
sao cô độc như Cô Thần, Quả Tú, Đẩu Quân; sao khắc khẩu như Thái Tuế, Trực Phù.

– cung Phu Thê phải có
sao ghen tuông, cãi vã, khó tính, câu chấp, ngỗ ngược, ngoan cố, lấn át, bướng
bỉnh

– nguyên nhân của mọi bất
hòa.

– hai lá số của nam nữ
có Bản Mệnh khắc nhau.

– có thể chính tinh ở
cung Mệnh số người này mà nghịch cách với chính tinh ở Phu/Thê của số người kia
thì cũng xung khắc.

e. Tình trạng ngoại tình:

+ Điều kiện về tính chất:

– lá số của nam hay nữ
phải chất chứa một nết tình mạnh thiên về nhục dục, hoặc sự si tình, lụy tình,
đồng thời với tính nết ham vui chơi, ưa hoang phí, thích thay cũ đổi mới, táo bạo,
trí trá …

– phải có nhiều cơ hội tốt
cho việc phát tác tình dục biểu lộ trong cung Di, cung Nô, qua những sao ái
tình tọa thủ tại 2 cung này. Những lá số có Thân cư Di hội nhiều sao tình dục
là ví dụ điển hình.

– ngoài điều kiện tích cực,
còn có điều kiện tiêu cực là thiếu sự khắc chế tình dục, hoặc sự khắc chế không
đủ mạnh so với các sao tình dục hiện diện.

+ Điều kiện về sao:

– nhất định phải có nhiều
sao tình dục hội trụ hoặc tập trung vào những cung cường, sao đồng cung hoặc
sao tình dục hạng nặng (Thai, Riêu, Tham, Đào) …

– phải có sao đa phu, đa
thê

– phải có sao bất hòa
gia đạo, chửa hoang

– phải có sao bất hạnh
(ly tán, đau khổ) gia đạo

+ Điều kiện về cung:

– sao tình dục phải xuất
hiện ở các cung Mệnh, Thân, chiếu Mệnh, chiếu Thân hoặc ở cung Phúc.

– sao tình dục phải có ở
cung Phu Thê

– sao tình dục phải có ở
cung Nô, Di

– nếu xuất hiện ở cung Hạn
(ngoài các cung nêu trên) thì vấn đề ngoại tình xảy ra nhất thời trong hạn đó

– cung Tử có những sao
hai dòng con: cùng mẹ khác cha hay cùng cha khác mẹ

+ Điều kiện thuộc hoàn cảnh:

– lá số phải được cứu
xét trong xã hội có sa đọa hay không

– nếp sống đương số có
sa đọa hay không;

– cần lưu ý thêm là việc
sợ vợ, sợ chồng lắm khi không phải là yếu tố kìm hãm ngoại tình.

+ Những dè dặt cần thiết:

– sao tình dục hay sao
ái tình có khi chỉ có nghĩa là có duyên (Hồng Loan) hay đẹp đẽ (Đào Hoa, Văn
Xương, Văn Khúc) hay dâm đãng mà không ngoại tình, hoặc cưới xin dễ dàng;

– lưu ý tránh ngộ nhận số
ngoại tình với số giang hồ, lẽ mọn, lãng tử;

– gặp trường hợp Thân cư
Thê/Phu có những sao ngoại tình cũng phải dè dặt;

– gặp số có hai đời vợ,
hai đời chồng phải dè dặt thêm: có khi là hai vợ, hai chồng đồng thời, có khi
là hai đời vợ/hai đời chồng liên tiếp, không trùng hợp nhau.

g. Tình trạng chia ly: sự chia ly ở đây bao hàm hai trường hợp ly thân hay ly
hôn chứ không nói đến sự xa cách để làm ăn hay vợ một nơi chống một ngả vì có
thuyên chuyển, không nói đến việc một trong hai người chết nửa chừng xuân.

Những điều kiện trực tiếp
của tình trạng chia ly gồm có:

– cung Phu Thê bị Tuần,
Triệt đồng cung;

– cung Phu Thê bị sát
tinh xâm phạm;

– cung Phu Thê bị ám
tinh, hao bại tinh, hình tinh đi với sao thay đổi, sao đau buồn, nước mắt, cô độc;

– cung Phu Thê có sao chỉ
hai đời chồng/vợ;

– cung Tử có những sao
chỉ con dị bào;

– lá số của hai vợ chồng
có Bản Mệnh khắc nhau;

– cung Phúc có nhiều sao
bất hạnh gia đạo (cao số, dang dở);

– cung Mệnh Thân có nhiều
sao xui xẻo, đau buồn, nhất là với nữ số;

– có những chỉ dấu ngoại
tình ở vài cung như Nô, Di;

– thiếu sao giải mạnh và
nhiều

Đi vào chi tiết, cần lưu
ý các sao sau:

– Những bộ sao của Tử Vi:

Chỉ có Tử Sát và Tử Phá
đồng cung nói lên sự chia ly khả hữu:

Tử Sát: nếu hôn
nhân bị trắc trở buổi đầu hoặc nếu muộn lập gia đình thì có thể tránh được chia
ly. Tuổi muộn thông thường là quá ba mươi. Thất Sát vừa chỉ sự không may, vừa
chỉ sự chậm chễ.

Tử Phá: Phá Quân
chỉ sự hao tán phu thê cho nên dù đi với Tử Vi cũng không giảm bất lợi. Vợ chồng
phải bị chia ly, hình khắc sau khi hiềm khích, giận hờn, gây gổ nhau.

– Những bộ sao của Liêm Trinh:

Liêm ở Dần, Thân: vợ hay chồng phải chắp nối nhiều lần, có họp rồi lại
tan, chưa kể việc lấy chồng/vợ nghèo.

Liêm Tướng: hai người
không từ biệt cũng chia ly, sau khi gây gổ nhau thường xuyên.

Liêm Tham: cũng chia
ly, thông thường có một người bị hình tù.

Liêm Sát: vừa chậm
gia đình vừa chia ly.

– Những bộ sao của Thiên Đồng:

Đồng ở Thìn, Tuất: thông thường là bất hòa, nếu không hoặc tử biệt hoặc
chia ly.

Đồng, Âm ở Ngọ: nếu muộn gia đạo có thể tránh chia ly. Thường người vợ
có lỗi vì Âm hãm ở Ngọ.

Đồng Cự: Vợ chồng
hay gây gổ nhau, nghi ngờ nhau, thường bỏ nhau vì mạ lỵ thậm tệ. Sao Cự chỉ
ngôn ngữ bất cẩn, cãi vã, thị phi.

– Những bộ sao của Vũ Khúc:

Vũ Sát: sự khắc kỵ
gia đạo hết sức nặng nề, mang lại tai họa cho vợ chồng lúc sống chung, một sống
một chết, nếu không cũng chia ly.

Vũ Phá: chia ly xảy
ra nếu sớm lập gia đình. Vì có Phá Quân, nên có thể hai lần tác hợp.

– Những bộ sao của Thái Dương, Thái Âm:

Dương hãm địa hay Âm hãm địa: nếu muộn gia đình thì tránh được chia ly, duy vợ chồng
hay bất hòa và trước khi lấy nhau thường gặp trắc trở.

Cự Dương ở Thân: ý nghĩa như trên.

Âm Dương đồng cung: nếu muộn gia đình thì có thể tránh được cảnh chia ly.

– Những bộ sao của Thiên Cơ:

Cơ Cự: chia ly nếu
sớm gia đạo. Sự hiện diện của Cự Môn thường bất lợi cho gia đạo, thường báo hiệu
việc bất hòa, gây gổ, hai vợ, hai chồng.

Cơ Nguyệt ở Dần: trắc trở trong việc cưới xin và nếu sớm lập gia đình
dễ chia ly.

– Những bộ sao của Tham Lang:

Tham ở Thìn, Tuất: sớm lập gia đình thì dễ chia ly. Vợ thì hay ghen
tuông, chồng thì chơi bời.

Tham ở Dần, Thân: vợ chồng dâm đãng, dễ bạc tình, dễ kết hợp nhau cũng
dễ chia ly.

Cự Môn ở Thìn, Tuất, Tỵ:
phải trắc trở trước khi
lập gia đình; bất hòa lúc sống chung; phải chia ly, 2 hoặc 3 lần lập gia đình.

– Những bộ sao của Thiên Tướng:

Tướng ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi: sớm lập gia đình thì sẽ bất hòa và dễ chia ly. Đời sống
vợ chồng rất cần sự nhịn nhục, vì Thiên Tướng chỉ nóng nảy và lấn át.

Tướng ở Mão, Dậu: ý nghĩa tương tự. Lúc cưới nhau hay gặp cản trở.

– Những bộ sao của Thất Sát:

Sát ở Thìn Tuất: phải vài lần lập gia đình, khó tránh được chia ly.

Sát ở Tý Ngọ: nếu sớm
gia đạo, dễ chia ly. Vợ chồng là con trưởng, cả hai rất ghen tuông.

– Những bộ sao của Phá Quân:

Phá ở Thìn, Tuất: nếu sớm thành gia đạo thì chẳng những phải chia ly mà
còn phải nhiều lần lập gia đình.

Phá ở Dần, Thân: ý nghĩa càng nặng hơn; vợ chồng chắc chắn phải chia
ly vì nguyên nhân ngoại tình.

Phá Quân đắc địa ở Tý, Ngọ:
vợ chồng tối thiểu cũng
có lúc xa nhau rất lâu.

Thiên Mã, Tuần, Triệt ở
Phu Thê:
Tuần Triệt ở Phu Thê chỉ
sự bất hạnh lớn lao và liên tiếp, có tính cách lâu dài của đời sống vợ chồng,
thậm chí có thể xem như không có vợ/chồng. Chẳng những Tuần, Triệt ở Phu Thê
cho thấy sự dang dở mối tình đầu mà còn dang dở vài mối tình kế tiếp. Đời sống
gia đạo không những triền miên bất hòa mà có thể đi tới gián đoạn vĩnh viễn.
Trong bối cảnh đó, sự có mặt của Thiên Mã càng xác nhận thêm sự ly cách giữa
hai vợ chồng. Nếu Thiên Mã được thay bằng những sao Thiên Đồng, Đại Tiểu Hao
cũng chỉ sự thay đổi, có lẽ ý nghĩa cũng tương tự.

Địa Không, Địa Kiếp ở
Phu Thê:
vợ chồng xa nhau, cụ thể
là bỏ nhau, chưa kể có thể một người phải chết. Nếu Không Kiếp đắc địa thì chỉ
có thể đoán là tạm thời xa nhau, dưới hình thức ly thân hoặc là người sống một
nơi kẻ ở một ngả, lâu lâu mới sum họp một lần hoặc là phải gặp ngang trái nặng
trong tình duyên.

Quan Phù, Thái Tuế, Quan
Phủ:
Quan Phủ, Quan Phù chỉ sự
phản bội, sự thiếu chung thủy đồng thời cũng có nghĩa kiện tụng. Thái Tuế chỉ cả
kiện cáo lẫn cãi vã, đồng thời cũng chỉ sự mất mát tình thương. Như vậy, bộ sao
trên có thể báo hiệu cho sự xung đột giữa hai vợ chồng đưa đến tình trạng lôi nhau
ra tòa phân xử, xin ly thân hay ly hôn. Nếu không có chuyện kiện nhau thì vẫn
có chuyện âm thầm bỏ nhau, mỗi người một giang sơn, tự do của ai nấy giữ, không
còn sự ràng buộc nào giữa hai người.

Thiên Hình ở Phu Thê: vấn đề tòa án hầu như không tránh được nhất là khi
Hình đi chung với một trong ba sao trên. Thiên Hình giúp xác nhận thêm sự ly hôn,
ly thân một cách chính thức. Ngoài ra, Hình còn ngụ ý rằng hai vợ chồng có cãi
vã đến nỗi đánh đập nhau hoặc người này hành hung người kia. Ngoài ra, Hình có
nghĩa là tù ngục nên có thể có một người ở tù sau cơn ẩu đả. Nếu đi chung với
Thái Tuế thì có “mạ lỵ thậm từ” và có đánh lộn gây thương tích nhưng
chỉ Thiên Hình cũng đã quá đủ.

Cô, Quả, Đẩu Quân ở Phu
Thê:
riêng 1 trong 3 sao này
thật sự không đủ để minh chứng tình trạng ly cách. Nó cần phải đi chung với những
sao kể trên. Riêng việc đơn thủ mà thôi thì Cô hay Quả hay Đẩu Quân chỉ sự cô
đơn, cô độc dưới nhiều hình thái: hoặc có chồng/vợ vẫn ở chung với nhau mà bị
cô đơn vì chồng/vợ không hiểu mình, không bệnh vực mình trước gia đình bên chồng
hoặc có vợ/chồng ở chung nhau nhưng không có sự thắm thiết, hầu như mỗi người
có ưu tư và nếp sống riêng rẽ, ít khi đồng thuận, không có chung thủy hoặc đối
với nữ số, có thể vẫn là vợ chính thức nhưng vẫn bị bỏ rơi vì chồng có vợ lẽ, cả
hai cũng vẫn không chia ly hoặc đối với nam số, có thể rơi vào tình trạng vợ
lăng loàn, nhưng đành cam chịu vì sợ uy tín, xấu hổ hay sợ vợ …

h. Trường hợp tử biệt:

– cung Phu Thê có Tuần,
Triệt riêng rẽ hoặc đồng cung trấn thủ, hội với sát tinh, có thể hội thêm với
hình tinh, hao bại tinh, ám tinh;

– cung Mệnh đương số có Cô,
Quả, Đẩu Quân, Tang, Hổ;

– số của hai vợ chồng đối
khắc Bản Mệnh và một trong hai lá số rơi vào đặc điểm đầu tiên;

– những bộ sao chỉ họa
cho tính mệnh xuất hiện trong lá số của một người;

– có những bộ sao chỉ
tình trạng chia ly kể trên;

– có những sao chỉ tình
trạng hai đời vợ/đời chồng trong lá số. Việc có con 2 dòng chỉ yếu tố phụ đới,
chỉ có giá trị quyết đoán khi gặp trường hợp đầu tiên.

i. Tình trạng án mạng trong gia đạo:

– một trong hai lá số có
những sao sát, nói lên sát nghiệp của người đó, trong khi lá số người kia có những
bộ sao chết vì án mạng hoặc yểu. Trong cả hai trường hợp, đều thấy xuất hiện
sát tinh hạng nặng như Địa Không, Địa Kiếp, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình, Kiếp
Sát, Kình Dương, Đà La. Đôi khi có những sao như Phục Binh, Thiên Không, Tang
Môn, Bạch Hổ. Sát tinh hầu hết bị hãm địa, nói lên nghiệp chướng.

– cung Phu Thê của hai
lá số đều gặp nhiều trường hợp bất lợi kể ở các đoạn nói về chia ly, tử biệt, họa
cá nhân, họa ngục hình;

– xét về nguyên nhân, án
tình thường bắt nguồn từ sự phản bội của vợ/chồng. Vì vậy, trong số phải có những
bộ sao phản bội, lăng loàn, ngoại tình, con dị bào …

– xét về hậu quả, án
tình, nếu thủ phạm còn sống sót, thường hay đưa đến hình ngục, kiện cáo …

– xét về sự trùng phùng,
cần quan tâm đến sự hội tụ của sát tinh, hình tinh, hao bại tinh, ám tinh đồng
cung hoặc xung chiếu với các sao tình duyên trong một đại hạn hay tiểu hạn nào
đó;

– sự đối khắc giữa hai Bản
Mệnh trong trường hợp này nhất định phải có;

– cần lưu ý đến những
sao nói lên cá tính của thủ phạm và nạn nhân. Thủ phạm phải là người tự ái,
ghen tuông quá mức, nóng nảy, ích kỷ tột độ, có ác tâm, có sát nghiệp. Nạn nhân
là người dâm đãng, trắng trợn, ngang tàng, mạo hiểm, thủ đoạn, dối trá, bê tha,
đam mê …

6. Họa cho con cái:

(thiếu)

Sự hiện diện của Song
Hao cho thấy phải tốn kém nhiều lúc dưỡng thai và lúc dưỡng nhi cũng như lúc
sinh nở.

Thai, Lưu Hà: chỉ sản
tai, tức là tai họa lúc sinh sản, thể hiện dưới hình thái mẹ chết lúc sinh, thường
là do băng huyết hoặc lúc sinh bị máu ra nhiều vì Lưu Hà chỉ máu loãng xuất huyết.

Thai, Tuần, Triệt: không kể trường hợp phá thai, bộ sao này có nghĩa là
bào thai yểu tử, nhất là khi gặp cả Tuần lẫn Triệt.

Thai, Quan Đới: Quan Đới chỉ cái chết bất đắc, không tự nhiên. Đi với
Thai thì dễ hư thai hoặc hài nhi sơ sinh chết bất thần. Gặp thêm sao xấu, nhất
là Không Kiếp, có thể báo hiệu cái chết của mẹ lẫn con.

d. Tình trạng con hư đốn:

Nếu con hư vì sắc dục,
trinh tiết thì tại cung Tử sẽ có những sao về họa sắc dục, trinh tiết, giang hồ.
Nếu con hư vì cờ bạc, hút sách, trộm cướp thì cung Tử có những sao hao tán tài
sản vì cờ bạc, hút sách, trộm cướp … Nếu con bị hình tù thì những cách hình tụng
nói trong họa tụng ngục xuất hiện tại cung Tử. Trường hợp chết dữ thì đã có sao
họa cho sinh mệnh cơ thể kể trên. Ngoài ra,

Tham ở Thìn, Tuất hay Thất Sát: cung Tử có Tham Lang hay Thất Sát ở Thìn, Tuất thì có
con bất mục, bất hiếu, khó dạy, ngỗ ngược.

Lương, Đồng ở Tỵ, Hợi: con chơi bời, lãng tử, nam thì kết đảng gian phi, nữ
thì dâm đãng hoang phí. Có thêm Mã thì thường bỏ nhà đi bụi đời.

Kình, Đà, Không, Kiếp hãm địa: chỉ con cái du đãng, bất lương, mất dạy.

Binh, Hình, Kiếp, Kỵ: đồng nghĩa như trên nhưng nặng nề, xấu xa hơn. Đó là những
gian phi hiểu theo nhiều nghĩa côn đồ, trộm cướp, hiếp dâm, phiến loạn, vào tù
ra khám nhiều lần. Thông thường, đây là cướp có tổ chức, có nhiều bè đảng, lâu
la giúp đỡ.

Đẩu Quân và nhiều sao xấu: con hoang phí, xài phá hết của cha mẹ.

Đào hay Riêu: con chơi bời,
đĩ điếm, lẳng lơ, hoa nguyệt. Nếu có sao Thai thì con gái có chửa hoang, bỏ nhà
theo trai.

e. Tình trạng con bất hòa:

Cự Môn: dù đắc hay
hãm địa, chỉ sự nghi kỵ, đố kỵ, ganh ghét, nói xấu, chỉ trích giữa con cái hoặc
giữa con dòng lớn và con dòng nhỏ.

Phục Binh hay Hóa Kỵ: ngoài ý nghĩa của Cự Môn, Binh Kỵ còn chỉ sự toa rập sang
đoạt, ám hại lẫn nhau, phá hoại nhau.

Thiên Hình, Quan Phù, Quan Phủ: con cái có thể kiện tụng nhau, hiềm khích nhau, coi nhau
như người dưng nước lã.

7. Họa cho cha mẹ:

a. Cha mẹ chết sớm: biểu hiện qua những đặc điểm chính sau:

– cung Phúc xấu hoặc tầm
thường;

– cung Phụ bị Tuần, Triệt
đồng cung trấn thủ;

– cung Phụ có Âm, Dương
sáng bị Tuần, Triệt;

– cung Phụ, cung Mệnh có
hao bại tinh, đặc biệt là Tang Môn, Bạch Hổ;

– cung có Thái Dương
(cha), cung có Thái Âm (mẹ) có Tang Hổ, Đại Tiểu Hao gặp sát tinh;

– số của cha, mẹ có cách
yểu.

Vị trí của Âm Dương cùng
với giờ sinh có thể giúp đoán được cha hay mẹ mất trước, cụ thể như sau:

– Âm Dương đều sáng sủa:
cha mẹ thọ (thông thường)

– Dương sáng, Âm mờ: mẹ
mất trước cha

– Dương mờ, Âm sáng: cha
mất trước mẹ

– Âm Dương cùng sáng:
sinh ban ngày: mẹ mất trước; sinh ban đêm: cha mất trước

– Âm Dương cùng mờ: sinh
ban ngày: cha mất trước; sinh ban đêm: mẹ mất trước

– Âm Dương đồng cung ở Sửu
Mùi: không có Tuần, Triệt đồng cung: sinh ngày – mẹ mất trước, sinh đêm – cha mất
trước; gặp Tuần hay Triệt đồng cung: sinh ngày – cha mất trước, sinh đêm – mẹ mất
trước.

Việc mất trước không bắt
buộc là mất sớm. Việc tính sớm, trễ phải dựa vào cung Phụ Mẫu, qua những bộ sao
dưới đây:

– Tử Vi, Phá Quân đồng
cung

– Tử Vi, Tham Lang đồng
cung

– Liêm Trinh ở Dần, Thân

– Liêm Trinh, Thất Sát đồng
cung

– Liêm Trinh, Tham Lang
đồng cung

– Thiên Đồng ở Thìn, Tuất

– Thiên Đồng, Cự Môn đồng
cung

– Vũ Khúc

– Vũ Khúc, Phá Quân đồng
cung

– Thái Dương ở Thân, Dậu,
Tuất, Hợi, Tý

– Thiên Cơ, Thái Âm ở Dần

– Thiên Cơ, Cự Môn đồng
cung

– Thiên Phủ ở Sửu, Mùi,
Mão, Dậu

– Thái Âm ở Mão, Thìn, Tỵ,
Ngọ, Dần

– Tham Lang

– Cự Môn ở Tỵ, Thìn, Tuất

– Thiên Lương ở Tỵ, Hợi

– Thất Sát ở Thìn, Tuất

– Phá Quân

– Phá Quân ở Thìn, Tuất

– Hỏa Tinh, Linh Tinh,
Phá Quân đồng cung

– Kình Dương, Đà La, Thất
Sát đồng cung

– Thiên Mã, Đà La và sát
tinh

– Cô Thần, Quả Tú và sát
tinh

– Tuần, Triệt tại cung
Phụ Mẫu

Ngoài ra, năm sinh và giờ
sinh của mình đôi khi có ảnh hưởng đến sự vắn số của cha mẹ trong 3 trường hợp
sau:

– sinh năm Dần, Ngọ, Tỵ,
Dậu giờ Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì rất độc: mồ côi sớm;

– sinh năm Dần, Hợi, Tỵ,
giờ Ngọ, Thân, Dậu, Hợi: khắc cha từ lúc còn nhỏ tuổi nhưng nếu qua 16 tuổi mà
chưa mồ côi cha thì coi như không mồ côi sớm nữa;

– sinh năm Thìn, Tỵ, Sửu,
Mùi giờ Tý, Ngọ, Mão, Tỵ, Hợi, Thân, Dậu: khắc mẹ trước.

Ba trường hợp trên phải
được tính phối hợp với các sao ở cung Phụ Mẫu kể trên để có thêm yếu tố quyết
đoán.

b. Cha mẹ chia ly: không kể mỗi người đi làm ăn một phương rồi thỉnh thoảng
gặp lại, tình trạng chia ly ở đây được hiểu là xa cách hẳn nhau, không tái họp
vì những nguyên nhân như ly thân, ly hôn, tử biệt. Có thể tham chiếu đoạn nói về
vợ chồng chia ly để khảo sát tình trạng chia ly của cha mẹ. Mặt khác, đôi khi
tình trạng chia ly gần giống tình trạng chết sớm. Ngoài ra, những họa xảy ra
cho cá nhân đều có thể ứng cho Phụ Mẫu nếu những bộ sao đó đóng ở cung Phụ.

c. Cha mẹ để nợ cho con cái: thể hiện qua các sao tài lộc bị sát tinh đi kèm, đôi khi
bị hao bại tinh đi kèm. Mặt khác, cung Tài của đương số cũng có hao bại tinh,
nhất là Tuần, Triệt, ngụ ý rằng chậm có tiền.

d. Cha mẹ bệnh tật nặng: xem trong cách bệnh, tật.

8. Họa cho anh em, chị em: ảnh hưởng đến sự yểu chiết, sự hư đốn của anh chi em, sự hình khắc bất hòa,
tranh
chấp giữa anh chị em, ruột hay nuôi hay ghẻ. Các bộ
sao nói lên tình trạng trên đều tương tự với các bộ sao yểu,
hư, hình khắc … giữa vọ chồng, con cái hay cha mẹ.

CÁCH GII HA, NHNG SAO GII

1. Cách giải họa qua các
sao:

a. Chính tinh:

Có thể nói tất cả chính
tinh đắc địa trở lên đều có ý nghĩa phúc đức, từ đó có ý nghĩa giải họa. Càng đắc
địa, hiệu lực càng mạnh. ở vị trí đắc địa, chính tinh phải tránh hai sao Tuần, Triệt.
Nếu chính tinh đắc địa bị hung sát tinh đi kèm thì may rủi thường đi liền nhau,
hoặc có lúc được phúc, lúc bị họa. Trong số chính tinh miếu, vượng và đắc địa, có
vài sao có hiệu lực giải họa mạnh:
Vũ Khúc, Thiên Tướng, Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Lương,

Thiên Đồng, Thái Dương, Thái Âm, Thiên Cơ.

Nếu hãm địa, khả năng cứu
giải kém hẳn. Cho dù hãm địa mà bị Tuần, Triệt thì hiệu lực cứu giải cũng không
được phục hồi như ở miếu, vượng địa mà chỉ tương đương với sao đắc địa.

Vũ Khúc: là sao giải
họa mạnh nhất. Nếu Vũ Khúc miếu, vượng và đắc địa gặp Không, Kiếp, Kình, Đà, Hỏa,
Linh thì không đáng lo ngại trong khi Tử Vi chỉ chế được Hỏa, Linh. Nếu Vũ Khúc
đồng cung với Thiên Tướng thì khả năng chống đỡ với sát tinh càng mạnh thêm,
cho dù sát tinh đó đắc địa hay hãm địa.

Thiên Tướng: khắc chế
được sát tinh. Có võ tinh khác đi kèm, Tướng được thêm uy, thêm quân. Được Vũ
Khúc đồng cung, hiệu lực của Thiên Tướng càng được tăng cường: tiêu trừ hay giảm
thiểu tai họa, bệnh tật một cách đáng kể. Thiên Tướng chỉ e ngại Kình Dương,
Thiên Hình và hai sao Tuần, Triệt. Với Kình Dương, hung nguy dễ gặp. Với Tuần
Triệt và Thiên Hình, Thiên Tướng không những mất uy lực cứu giải mà còn báo hiệu
bệnh, tật, họa nặng nề hơn nữa.

Tử Vi: là cách giải
họa gián tiếp vì (i) Tử Vi che chở con người chống lại bệnh tật và họa nhưng Tử
Vi chỉ ban phúc chứ không giải họa mạnh như Vũ Khúc hay Thiên Tướng. Đối chọi với
sát tinh, Tử Vi chỉ khắc được Hỏa, Linh mà thôi. Gặp sát tinh khác như Kình,
Đà, Không, Kiếp, Tử Vi ví như bị vây hãm một cách hiểm nghèo: tuy không chết
nhưng gặp hung họa dẫy đầy, đấu tranh chật vật; (ii) Tử Vi mang lại tiền bạc, của
cải giúp con người tránh được cảnh nghèo, đồng thời giúp con người tạo phúc cho
mình bằng tiền bạc; (iii) Tử Vi ban cho công danh, quyền thế trong xã hội,
không bị đè nén bởi sự cạnh tranh giai cấp.

Thiên Phủ: cũng có đặc
tính như Tử Vi nhưng hiệu lực kém hơn. Tuy nhiên, Phủ mạnh hơn Tử trong việc đối
chọi với sát tinh: có tác dụng khắc phục được cả Kình Đà nhưng hiệu lực này chỉ
có đối với từng sao riêng lẻ hoặc nhiều lắm là hai hoặc ba sao phối hợp. Lẽ dĩ
nhiên, Phủ chưa phải là địch thủ của Địa Không, Địa Kiếp và Phủ còn chịu thua
Thiên Không nữa. Mặt khác, gặp Tuần Không và Triệt Không, Phủ bị giảm hẳn khả
năng cứu giải.

Tử Vi, Thiên Phủ đồng cung: chế hòa được Kình, Đà, Hỏa, Linh phối hợp nhưng đây là
cuộc đọ sức giữa các địch thủ hạng nặng, hẳn sẽ gây biến động lớn cho cuộc đời.
Bản Mệnh chỉ vững chãi nếu được đắc cách Mệnh Cục tương sinh, Âm Dương thuận lý
cùng với Tử Phủ đắc địa đồng cung. Bằng không, cuộc đời sẽ gặp nhiều sóng gió,
hiểm tai nghiêm trọng. Phối cách này cũng tạm thời cầm chân được từng sao Địa
Không, Địa Kiếp.

Tử, Phủ, Vũ, Tướng cách: cách hay nhất vì giải họa thập toàn nhất.

Thiên Lương: nếu đóng ở
cung Phúc thì đức của ông bà di truyền được cho mình, nếu đóng ở Mệnh, Thân thì
tự mình tu nhân, tích đức, gây được hậu thuẫn cho người đời. Nhưng Thiên Lương
chỉ kìm chế được hung tinh mà thôi.

Thiên Đồng: ý nghĩa
tương tự như Thiên Lương nhưng hiệu lực cứu giải kém hơn. Gặp hung tinh, Thiên
Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ kìm chế được nếu có thêm giải tinh trợ lực. Đối
với bệnh tật, Thiên Đồng ắt phải lận đận nhiều và chỉ bệnh về bộ máy tiêu hóa
vì Thiên Đồng giải bệnh tương đồng kém.

Thái Dương, Thái Âm sáng sủa: chỉ sự thông minh quán thế, khả năng nhận thức thời cuộc,
sự am hiểu lẽ trời, tình người từ đó Nhật Nguyệt giúp con người thích nghi dễ
dàng với nghịch cảnh với nhiều may mắn. Tuy nhiên, đối với bệnh tật, Nhật Nguyệt
không mấy hiệu lực: chỉ bệnh căng thẳng tinh thần, bệnh thần kinh, bệnh tâm trí
và nhất là bệnh mắt. Nhật Nguyệt có hiệu lực như Thiên Phủ đối với Kình, Đà, Hỏa,
Linh nhưng bị Không, Kiếp lấn át. Nếu Nhật Nguyệt đồng cung ở Sửu Mùi có Tuần
Triệt án ngữ, thêm Hóa Kỵ càng tốt, khả năng giải họa tất phải mạnh hơn, chống
được hung và sát tinh đơn lẻ. Giá trị của Nhật Nguyệt trong trường hợp này
tương đương với Tử Phủ đồng cung hay ít ra cũng bằng Đồng Lương hội tụ.

Thiên Cơ: chỉ người
vừa hiền vừa khôn (tương tự như Nhật Nguyệt) nên có hiệu lực cứu giải. Nhưng về
mặt bệnh lý, Thiên Cơ chỉ bệnh ngoài da hay tê thấp cho nên ít giải bệnh.

b. Phụ tinh:

+ Những giải tinh bắt nguồn
từ linh thiêng:
được cụ thể
hóa qua: những hên may đặc biệt giúp cho con người thoát hay giảm được bệnh tật,
tai họa; những vận hội tốt đẹp của thời thế, của hoàn cảnh, những diễn biến bất

ngờ có lợi đặc biệt cho
riêng mình. Gồm các sao:
Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần,
Thiên Quan, Thiên Phúc

+ Những giải tinh bắt nguồn
từ sự giúp đỡ của người đời:
Tả Phù, Hữu Bật khi đắc địa ở Thìn, Tuất, Sửu, Mùi và có kèm theo nhiều cát tinh khác. Tả Hữu tượng
trưng cho sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp, thượng cấp, hạ cấp nhưng chỉ cứu
họa chứ không giải bệnh. Tả Hữu còn có nghĩa là chính mình hay giúp đỡ kẻ khác nhờ
đó được sự hỗ tương. Có hai sao này ở Mệnh, đương số dễ dàng thành đạt nhưng cần
đi chung với chính tinh đắc địa.

+ Những giải tinh bắt nguồn
ở chính năng đức con người:

Hóa Khoa: là giải
tinh rất mạnh bao trùm cả bệnh, tật, họa.

Tam Hóa (Khoa, Quyền, Lộc): càng mạnh nghĩa hơn nữa. ý nghĩa đó càng mạnh nếu cả ba
hội chiếu hoặc liên châu (Mệnh, Thân ở giữa có một Hóa, hai Hóa kia tiếp giáp
hai bên). Thủ Mệnh hay Thân, Tam Hóa có hiệu lực mạnh hơn thế liên châu, nhất
là không bị sát tinh xâm phạm. Tam Hóa sẽ tăng hiệu lực nếu đóng ở cung ban
ngày và cung dương. Tam Hóa giải họa nhiều hơn giải bệnh,tật. Nếu bị sát tinh
đi kèm, Hóa nào bị thì nguồn cứu giải của Hóa đó bị giảm sút hoặc bị họa về mặt
đó. Cụ thể, Quyền gặp Không Kiếp thì quý cách bị giảm, Lộc gặp Không Kiếp thì
hao tán tiền bạc, Khoa gặp Không Kiếp thì khoa bảng lận đận.

Tứ Đức (Long Đức, Nguyệt Đức, Thiên Đức và Phúc Đức): chỉ phẩm cách tốt, sự nhân hậu, khoan hòa của cá nhân,
nết hạnh đó báo hiệu sự vô tai họa hay ít tai họa. Hiệu lực giải bệnh của Tứ Đức
không có gì đáng kể.

Thiếu Âm, Thiếu Dương: ý nghĩa giống như Tứ Đức nhưng hiệu lực kém hơn và không
có nghĩa giải bệnh.

+ Những giải tinh khác:

Thiên Tài: ý nghĩa giải
họa của Thiên Tài chỉ có khi nào sao này gặp sao xấu vì nó làm giảm bớt tác hại
của sao xấu. Do đó Thiên Tài có tác dụng như Tuần, Triệt tuy không mạnh bằng.
Tuy nhiên, Thiên Tài gặp sao tốt sẽ làm giảm bớt cái hay.

Thiên La, Địa Võng: có tác dụng làm cho sao xấu thành tốt lên ít nhiều, do
đó góp phần giảm họa riêng trong các hạn nhỏ.

Đại Hao, Tiểu Hao: nếu đóng ở
cung Tật, Đại Tiểu Hao có hiệu lực giải họa đáng kể, cụ thể như làm họa, bệnh
tiêu tán mau kiểu như bệnh chóng lành, người bị họa mau khôi phục thế quân
bình. Vì la sao hao nên kỵ đóng ở
cung Tài.

CÁCH SINH, KHC V CHNG – NHNG SAO XUNG, HP GIA ĐO

1. Sự khắc hợp giữa trai
gái tính theo can:

a. Năm trường hợp tốt:

– Giáp hợp Kỷ – Đinh hợp
Nhâm

– ất hợp Canh – Mậu hợp
Quý

– Bính hợp Tân

b. Mười trường hợp xấu:

– Giáp phá Mậu – Kỷ phá
Quý

– ất phá Kỷ – Canh phá
Giáp

– Bính phá Canh – Tân
phá ất

– Đinh phá Tân – Nhâm
phá Bính

– Mậu phá Nhâm – Quý phá
Đinh

2. Sự khắc hợp giữa trai
gái tính theo chi:

a. Vấn đề hợp:

Tam hợp gồm:

– Dần, Ngọ, Tuất

– Thân, Tý, Thìn

– Tỵ, Dậu, Sửu

– Hợi, Mão, Mùi

Nhị hợp gồm:

– Tý hợp Sửu – Thìn hợp
Dậu

– Dần hợp Hợi – Tỵ hợp
Thân

– Mão hợp Tuất – Ngọ hợp
Mùi

b. Vấn đề khắc:

– Tý khắc Ngọ – Tỵ khắc
Hợi

– Mão khắc Dậu – Thìn khắc
Tuất

– Dần khắc Thân – Sửu khắc
Mùi

3. Việc lập gia đình qua
các sao:

a. Những sao hỷ tín:

Thông thường, các sao
hay bộ sao may mắn nói chung đều có nghĩa hỷ tín khi đi chung với sao tình
duyên hay sao cưới hỏi, bao gồm:
Thiên Hỷ-Hỷ Thần; Thanh Long-Lưu Hà; Thanh Long-Hóa Kỵ;
Thiên Mã-Tràng Sinh; Thiên Mã-Điếu Khách-Thiên Khốc; Ân Quang-Thiên Quý; Thiên
Quan-Thiên Phúc; Tả Phù-Hữu Bật; Tứ Đức nhất là Nguyệt Đức và Thiên Đức.

b. Những sao tình duyên:

Hầu hết bao gồm các sao
tình dục nếu kết hợp với sao hỷ tín thì dễ quyết đoán có hôn nhân, đặc biệt nhất
là những sao dưới đây:
Đào Hoa-Hồng Loan; Thiên Riêu-Thai; Mộc Dục-Hoa Cái; Liêm
Trinh-Tham Lang.

c. Những sao cưới hỏi: bao gồm: Long Trì-Phượng Các, Thanh Long

d. Những sao hao tài: Đại Hao, Tiểu Hao

e. Những sao làm cho nhanh hay chậm: thông thường là các sao hành Hỏa và Bắc Đẩu là hai loại
sao hối thúc, khiến hôn nhân sớm thành. Còn Nam Đẩu vì ăn về sao cho nên có ý
nghĩa chậm hơn. Đặc biệt là những sao
Phi Liêm, Hỏa Tinh, Linh tinh có tác dụng hối thúc. Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Không chỉ sự bất thần, đột ngột. Thiên Khôi, Thiên Việt chỉ sự vừa ý. Các Nam Đẩu vì hiệu lực về sau cho nên báo
hiệu hôn nhân vào nửa năm sau.

4. Những sao bất lợi cho
hôn nhân:

Cô Thần, Quả Tú hay Đẩu Quân: chỉ sự lẻ loi, xế bóng, cô đơn, kén chọn, có tác dụng
ngăn trở việc lập gia đình. Càng hội tụ nhiều, sự ngăn trở càng mạnh, trừ phi gặp
nhiều sao tình duyên bù chế.

Thái Tuế, Quan Phù, Quan Phủ: Thái Tuế đối nghĩa với Đào, Hồng vì vậy làm cản trở sự
kết duyên. Quan

Phù và Quan Phủ chỉ sự
phản bội, sự phụ rẫy trong tình yêu.

Phục Binh: chỉ sự cản
trở, thường là bắt nguồn từ cha mẹ mỗi bên không tán thành duyên số cho đôi trẻ.
Mặt khác, sao này còn chỉ sự phá hoại, rình rập, bắt ghen, bêu xấu.

Địa Không, Địa Kiếp hãm địa: chỉ sự xui xẻo về mọi phương diện. Không Kiếp hãm làm
cho việc cưới hỏi bất thành, trai gái phải đau khổ vì mối tình bất toại, đôi
khi đưa đến hậu quả tai hại cho tính mạng.

Phá Quân hãm địa: không bao giờ có lợi cho hôn nhân và cho hạnh phúc lứa
đôi. Hạn rơi vào, việc lập gia đình sẽ bị tan vỡ.

Tuần, Triệt: phá vỡ,
làm chậm trễ, làm khó khăn cho hôn nhân. Nếu cả hai đồng cung ở hạn đó thì sự bế
tắc quan trọng. Trong trường hợp đơn thủ mà gặp sao xấu tại cung hạn, sự khó
khăn, trắc trở xảy ra trong buổi đầu: hôn nhân sẽ đến chậm.

CÁCH SỢ VỢ, NỂ VỢ – NHỮNG
SAO SỢ VỢ, NỂ VỢ

1. Những bộ sao nói lên bản
lĩnh của người vợ:

Thất Sát hay Hóa Quyền ở cung Thê: Sát là sao nóng tính, uy dũng, oai phong, cương nghị,
hiếu thắng, tự ái đối với cả hai phái. Dù đắc địa hay hãm địa, bản chất cương
cường không biến thể bao nhiêu nên nữ mệnh có sao này tọa thủ càng có khuynh hướng
đóng vai chủ động trong việc liệu công việc trong gia đình và giao tế ngoài xã
hội. Hóa Quyền chỉ sự hiếu thắng, háo quyền, thích chỉ huy, hay dựa vào quyền thế
kẻ khác, đặc biệt là của chống. Từ đó, hậu quả khả hữu là hay hiếp chồng, lấn
lướt người chồng, lợi dụng quyền lực của chồng. Cả hai sao đi chung là hai yếu
tố căn bản của một phụ nữ hiên ngang đối với chồng. Sát hay Quyền càng đắc địa,
tính tình càng cương ngạnh.

Tướng Quân hay Thiên Tướng ở cung Thê: Thiên Tướng là quyền tinh và dũng tinh nên đàn bà có
sao này nóng nảy và bất nhẫn như Thất Sát, mặt khác lại có tính ghen tuông mãnh
liệt. Nếu đắc địa, Thiên Tướng còn có ý nghĩa tư chế ít nhiều, thường có xu hướng
cao thượng hơn, cụ thể là dùng nghị lực của mình để thuyết phục chồng, áp lực
chồng làm việc hay. Nếu hãm địa, tính tình trở nên bộc trực, nóng nảy, liều
lĩnh, miễn đạt ý muốn, bất chấp hay dở. Tướng Quân, tuy là phụ tinh, nhưng đồng
nghĩa với Thiên Tướng, duy có nóng tính, táo bạo, liều lĩnh nhiều hơn. Ngoài
ra, còn có tính kiêu căng, có óc lãnh tụ, có tinh thần sứ quân, háo quyền, nặng
tính chất vũ phu và độc lập hơn Thiên Tướng rất nhiều, nết ghen cũng không thiếu.
Cả hai sao nếu đồng cung được gọi là “lưỡng tướng”. Cung Thê của đàn
ông gặp bộ sao này thì rất sợ vợ còn cung Mệnh của phụ nữ có hai sao này thì
hay lấn hiếp chồng. Nếu được cát tinh phù trợ thì áp lực của vọ có chiều hướng
tốt, có lợi cho chồng, kiểu như vượng phu. Kỳ dư thì thường bất lợi và hay trái
đạo phu thê.

Thân cư Thê: có thể là
(i) phải nhờ vả nhiều nơi người vợ vì chính hoạt động của vợ có ảnh hưởng sâu rộng
và trực tiếp đến hậu vận của chồng; (ii) sợ vợ, nể vợ hoặc do bản tính cố hữu
hoặc do nguyên nhân kể trên.

Hóa Quyền ở cung Nô: đây là cách sợ vợ bé hay sợ nhân tình của người chồng
đã đa mang. Người đa thê mà gặp sao này ở Nô thường lục đục với gia đình chính
thức. Nếu có Thiên Tướng hay Tướng Quân ở Nô nữa thì mức độ chi phối của nhân
tình và vợ lẽ rất quyết định. Nếu có thêm các sao thủ đoạn, chua ngoa nữa (như
Phục Binh, Thái Tuế, Hóa Kỵ) thì vợ lẽ, nhân tình đó tác oai, tác quái vô cùng.
Nếu Hóa Quyền chỉ hội chiếu vào Nô thì ảnh hưởng đó gián tiếp, giai đoạn và cơ
hội mà thôi.

2. Những bộ sao nói lên tư
thế trội yếu của người vợ:

Thông thường có những
tài tinh ở Thê trội yếu như:
Hóa Lộc hay Lộc Tồn ở Thê – Vũ Khúc, Thiên Phủ ở Thê –
Hóa Lộc hay Lộc Tồn, Ân Quang, Thiên Quý ở Thê – Tử Vi, Thiên Tướng ở Thê –
Long, Phượng,

Lộc, Mã ở Thê và nhiều bộ
sao giàu có chỉ di sản, tư sản, tạo sản của người vợ.

Nếu các bộ sao giàu ngụ ở
Thê thì tất sẽ vắng bóng ở cung Mệnh, Thân, Tài, Quan của nam số. Nếu những
cung này xấu thì chồng nghèo hơn vợ và phải “thực lộc chi thê”.

Nếu Thái Âm sáng sủa ở
Thê thì tư thế của vợ mạnh và nếu sao tọa thủ Mệnh của người chồng lại lép vế
thì nam số thường nương thế vợ để tiến thân.

Thân cư Thê có Thái Âm sáng sủa: sợ và nể vợ
khá rõ ràng. Thái Âm càng sáng, sự nghiệp vợ càng hiển. Nếu
đồng cung với Thiên Cơ ở Thân (Thiên Cơ chỉ sự khó tính, ghen tuông) thì ý
nghĩa trên càng được xác nhận.
Trong mọi vị trí mà Thái Âm sáng sủa (Thân, Dậu, Tuất, Hợi, Tý) đóng ở Thê
thì trai lấy vợ vừa đẹp, vừa giàu,
thường nể vợ và phải nhờ vợ mới có danh. Nếu có thêm cả Lộc, Quyền thì tính
sợ vợ càng chắc chắn.

CÁCH ĐA PHU – NHNG SAO NHIU CHNG

1. Cách đa phu tại cung Phu:

Cự Môn, Hóa Kỵ: cho dù đắc địa cũng nói lên bất trắc gia đạo đặc biệt
là khi đồng cung. Bộ sao này gọi là “ngọc có vết”, ám chỉ duyên số phụ
nữ phải gặp bất hạnh, từ tai nạn trinh tiết xảy ra cho người con gái chưa chồng
cho đến hậu quả trên hạnh phúc gia đạo sau khi lập gia đình. Cự, Kỵ có nghĩa là
có hai đời chồng, đồng thời cũng có nghĩa là gia đạo bất hòa, người đàn bà bị hắt
hủi, phụ rẫy vì thất trinh trước khi lấy chồng. Nếu chỉ có Kỵ đơn thủ thì chỉ
có nghĩa là bất hòa mà thôi.

Cự Môn hãm địa: nếu cung Phúc, Mệnh hay Thân xấu, Cự Môn hãm địa sẽ bất
lợi cho gia đạo, thể hiện qua việc chắp nối vài lần. Trái lại, nếu ba cung trên
tốt, thì có thể chỉ xung khắc mà thôi.

Cự Môn, Hỏa Tinh, Linh Tinh: khắc phá, dễ đi đến tan vỡ, chắp nối.

Phá Quân, Tuần hay Triệt: Phá Quân chủ sự hao tán phu thê dù là đắc địa. Tuần, Triệt
báo hiệu sự xung khắc nặng. Cả hai sao thường báo hiệu sự gãy đổ, có khi đến ba
lần. Chỉ riêng Tuần hay Triệt cũng đủ hủy hoại một lần hôn nhân.

Tuần, Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung: chỉ sự gãy đổ một lần, nhẹ nhất có thể là bị hồi hôn sau
khi có lễ hỏi, nặng nhất là tan rã sau khi hai người ăn ở với nhau. Nếu Tuần,
Triệt đồng cung thì cái họa chia ly, sát phu, chắp nối hầu như khó tránh và có
thể xảy ra ít nhất hai lần trong gia đạo. Nếu cung Phúc, Mệnh, Thân mà xấu nữa
thì nữ số, ngoài việc chết chồng, mất chồng có thể lâm vào cảnh lẽ mọn, thứ thiếp,
chưa kể đây có thể là trường hợp gái giang hồ hoặc là gái già không chồng, lỡ
thời hoặc phải ở vậy nuôi con, dù có “lắm mối” mà tối vẫn “nằm
không”. Trường hợp chồng bỏ cũng là một hình thái khả dĩ có. Hai sao này
phá hoại cung Phu không kém gì Phá Quân hãm địa. Mức độ nặng nhẹ, số lần tan hợp
còn tùy phẩm chất của Phúc, Mệnh, Thân.

Thất Sát ở Thìn, Tuất: khắc chồng và gián đoạn gia đạo nhiều lần, đặc biệt là
khi Phúc, Mệnh, Thân xấu.

Tử Vi, Tham Lang hội Tả, Hữu: Riêng Tả, Hữu ở Phu ám chỉ sự song đôi, nghĩa là có hai
đời chồng hoặc nếu Mệnh, Thân có nhiều sao tình dục thì có chồng và có cả nhân
tình.

Đào Hoa, Thiên Hình: duyên số bị trắc trở nhiều lần. Vì Thiên Hình chỉ sự ghen
tuông và bạo hành cho nên cách Hình Đào ám chỉ một vụ ngoại tình nào đó của người
chồng (hay vợ) làm đổ vỡ gia đạo, sau một trận xô xát và mặt khác cũng chỉ cá tính
quá ghen tuông của người vợ/chồng làm cho duyên phận hai bên bị gián đoạn. Vốn
có Đào Hoa hiện diện ở Phu cho nên việc ngoại tình của chồng thường tái diễn và
việc ông ăn chả bà ăn nem cũng khả hữu.

Thiên Riêu, Thiên Hình: ý nghĩa tương tự như trên nhưng có phần nặng hơn vì Thiên
Riêu chỉ sự giao dịch sinh lý hẳn hoi, trong khi Đào Hoa có thể chỉ bay bướm
lăng nhăng. Tuy Hình, Riêu ở Phu có nghĩa là chồng ngoại tình song đây cũng là cách
gái hại chồng, phản chồng để thỏa mãn sinh lý hoặc để trả thù. Nghĩa này càng rõ
khi Riêu thủ ở Mệnh, Thân, Di hay Quan của lá số phụ nữ: đàn bà dâm đãng, ngoại
tình và bị chồng hay nhân tình đánh đập (Thiên Hình chỉ thương tích) hoặc kiện
ly dị.

Đào Hoa hay Hồng Loan gặp Hóa Kỵ: không nhất thiết phải có hai chồng. Chắc chắn nhất là
bộ sao này chỉ sự đắc mèo của chồng, đắc kép của vợ. Hội với Hóa Kỵ ở cung Phu
là có sự lục đục, nghi ngờ lẫn nhau trong gia đạo. Nếu thiếu sao đoan chính thì
vấn đề đắc kép của nữ số chỉ ngoại tình, đa “phu”. Nếu nhân duyên bị
gián đoạn, người đàn bà tái giá rất nhanh, nhờ luôn có kép hờ.

Long Trì, Phượng Các, Tả Hữu: Long Phượng chỉ hôn nhân, còn Tả Hữu ngụ ý có sự song
đôi hay tái sinh, tái hợp nhiều lần. Vì bản chất tốt đẹp của Long Phượng nên
trong cả hai lần, phụ nữ đều gặp nhân duyên ưng ý.

Nhật, Nguyệt, Tả Hữu: Nhật Nguyệt tượng trưng cho chồng và vợ đi đôi với Tả
Hữu có thể có tình trạng hai lần lập gia đình hoặc tình trạng có gia đình mà có
nhân tình. Nếu Nhật Nguyệt cùng sáng, hai mối duyên có thể cùng tốt đẹp. Nếu mờ
ám, thường là ngang trái, chia ly.

Thiên Mã, Tuần hay Triệt: chỉ sự đổ vỡ một lần.

Cự Môn, Thiên Đồng, Thiên Riêu: Cự ở Phu chỉ trắc trở gia đạo, Đồng chỉ sự thay đổi, Riêu
chỉ sắc dục. Đây là trường hợp ngoại tình của người chồng hoặc người vợ vì Cự ở
Phu thường chỉ hai đời chồng hoặc hai chồng. Vì Riêu chỉ mối tình xác thịt cho
nên cả hai vợ chồng cùng chạy theo tiếng gọi của sinh lý.

Thai, Phục, Vượng, Tướng: hai vợi chồng lấy nhau rồi mới hợp thức hóa (tiền dâm
hậu thú), đồng thời cũng có nghĩa là vợ hoặc chồng có một đời con trước rồi mới
họp nhau.

2. Cách đa phu tại cung Mệnh
hay Thân:

Đào Hoa hay Hồng Loan với Thiên Riêu: đa tình, đa dâm, dù đã có chồng.

Đào, Thai hay Liêm Trinh, Tham Lang đồng cung: chỉ sự dâm đãng khá nặng, hiến dâng một cách dễ dãi
và vô điều kiện. Riêng bộ Liêm Tham còn báo hiệu cả số kiếp giang hồ khả hữu. Sự
hiện diện của sao Thai còn có nghĩa “không chồng mà chửa”.

Thiên Riêu, Thiên Đồng: chỉ sự thay cũ đổi mới trong vấn đề sinh lý và là biểu
hiện của sự ngoại tình, bắt nguồn từ lý do thể xác. Nếu Đồng ở Hợi hay Tỵ mà gặp
Riêu tại đó thì có thể là giang hồ, hư thân mất nết từ nhỏ.

Hoa Cái, Bạch Hổ, Mộc Dục: Mộc Dục và Hoa Cái chỉ sự chưng diện, se sua và háo dâm.
Bạch Hổ là máu. Tính nết dâm đãng vào tận xương tủy, hầu như là một bệnh sinh
lý. Đây là người chưng diện sắc sảo và khéo chiều chuộng đàn ông, làm cho mọi
người phải chết mê, chết mệt vì họ.

Tướng, Khúc, Mộc, Cái, Đào: chỉ sự hoa nguyệt của hạng người quý phái, ngoại tình
với các nhà tai mặt, quyền thế, sang trọng.

Tham Lang hay Thất Sát ở Dần, Thân: chỉ người con gái bạc tình, đôi khi ghen tuông từ tự ái
hay quyền lợi hơn là vì tình yêu

Đào Hoa hay Hồng Loan: có nhan sắc, có duyên. Nếu hội thêm Tả Hữu, có thể có
hai đời chồng.
Sát tinh và sao tình dục: báo hiệu nhiều nghiệp chướng trong tình trường, cụ thể
như gặp nhiều mối tình hết

sức ngang trái hoặc phải
tan vỡ nhiều lần, thậm chí có thể là giang hồ lãng tử. Người đàn bà như vậy gặp
nhiều mối tình liên tiếp, chóng hợp, chóng tan, mỗi lần như thế đều phải điêu đứng,
đau khổ, có khi đến tự tử (sát tinh).

Chính tinh hãm địa ở Mệnh: cũng là một bất hạnh có thể có cho gia đạo. Sát Phá Liêm
Tham không bao giờ hợp với phụ nữ về phương diện gia đạo. Nếu đắc địa thì có thể
quyền quý cao sang nhưng cảnh chồng con không toàn, không bền, dễ bị gián đoạn,
chắp nối.

3. Cách đa phu ở cung Nô:

Đào Hoa hay Hồng Loan: chỉ nhân tình khả hữu, dù là có chồng.

Thiên Riêu, Đào Hoa hay Thiên Đồng: háo dâm, hay thay đổi tình nhân và ngoại tình. Duy chỉ
có Riêu ở Mão, Dậu thì tương đối kín đáo, có tự chế, vì thế ít lụy đến danh
giá, tai tiếng. Nếu có Tử đồng cung thì cuộc ngoại tình rất bí mật, cẩn thận,
nhờ tài khéo léo che mắt thiên hạ. Đào với Tử còn có nghĩa là yêu trộm, thương
thầm, có khi chỉ một chiều.

Thai Đào hay Thai Riêu: chỉ việc thụ thai khả hữu do lang chạ.

Thai, Phục, Vượng, Tướng: dâm bôn với người tình có thể có thai. Thông thường, có
sự dụ dỗ của một bên nào đó vì có Phục Binh và Tướng Quân chỉ thủ đoạn, làm liều,
táo bạo. Và cũng vì có Phục Binh nên có thể câu chuyện bị tiết lộ và cặp nhân tình
bị bắt ghen tại trận. Nếu được Thiên Giải đồng cung, có thể chạy thoát.

4. Cách đa phu ở cung Tử:

Khi cung Tử là âm cung
thì bảy cách sau chỉ đàn bà hai chồng:
Thiên Tướng, Tuyệt – Thái Âm, Thiên Phúc – Cự Môn,
Thiên Cơ đồng cung – Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương thủ, chiếu – Phục Binh, Tướng Quân
– Thai, Đế Vượng và Thai, Tả, Hữu.

5. Cách đa phu ở cung Thê của
phái nam:

Đào, Hồng, Kỵ, Đà: lừa dối chồng để trăng hoa.

Đào, Hồng, Cái: vợ chồng bỏ nhau vì nguyên nhân loạn dâm hay ngoại
tình.

Đào, Thai hay Hồng Riêu hay Riêu Thai: vợ ngoại tình, lang chạ, đôi khi mang con người về cho
chồng nuôi.

Thất Sát hay Phá Quân ở Thìn, Tuất: vợ hai lòng.

CÁCH TỬ TỨC – NHỮNG SAO
SINH CON

1. Cách tử tức qua các sao:

a. Chính tinh: hầu hết
các chính tinh đắc địa trở lên đều có nghĩa là có con. Vì vậy, dưới đây là danh
sách các sao chỉ cách hiếm muộn con cái:

– Vũ Khúc

– Vũ Khúc, Thất Sát

– Vũ Khúc, Thiên Tướng

– Thất Sát ở Thìn, Tuất,
Tý, Ngọ

– Thất Sát, Liêm Trinh

– Tham Lang ở Tý, Ngọ

– Phá Quân

– Phá Quân, Liêm Trinh

– Thiên Đồng ở Thìn, Tuất,
Tỵ, Hợi

– Thiên Đồng, Thái Âm ở
Ngọ

b. Các phụ tinh:

Thai: có sao này
ở Mệnh, Thân, Tử thì khỏi lo tuyệt tự. Tuy nhiên, sao Thai chỉ khả năng có con
chứ không hẳn có nghĩa là nuôi được đứa con đó.

Mộc Dục: chỉ sự thụ
thai và sinh nở nhiều, ý nghĩa rõ hơn sao Thai.

Long Trì, Phượng Các – Thanh Long: chỉ có con và sinh nở được vuông tròn. Con sinh ra lại
đẹp đẽ, dĩnh ngộ.

Tràng Sinh, Đế Vượng: chỉ sự phong phú con, cụ thể là có nhiều con trai.

Ngoài ra, một số sao
khác có ý nghĩa tử tức một cách gián tiếp hơn, chỉ sự may mắn, sự sớm con nói
chung:

Nguyệt Đức, Thiên Đức – Long Đức, Phúc Đức – Thiên Quan,
Thiên Phúc – Tả Phù, Hữu Bật – Dưỡng – Thiên Hỷ, Hỷ Thần – Thiên Mã, Tràng Sinh
– Thanh Long, Lưu Hà.
Những sao
này chỉ xác nhận thêm triển vọng sinh nở vuông tròn, suôn sẻ khi đi chung với
sao tử tức kể trên.

2. Cách sinh trai, gái:

a. Vấn đề trai nhiều hay gái nhiều trong số con:

Khi nào cung Tử có sao
nam đẩu tọa thủ thì có con trai nhiều hơn con gái. Có 7 sao nam đẩu:
Thiên Phủ, Thiên Cơ,
Thiên Tướng, Thái Dương, Thiên Lương, Thất Sát, Thiên Đồng.

Khi nào cung Tử có sao bắc
đẩu tọa thủ thì có con gái nhiều hơn con trai. Có 6 sao bắc đẩu:
Cự Môn, Tham Lang, Thái
Âm, Vũ Khúc, Liêm Trinh, Phá Quân.

Trong trường hợp cung Tử
có cả nam, bắc đẩu đồng cung thì căn cứ vào âm dương tính của cung Tử mà xét.

Nếu cung Tử ở dương cung
thì trai nhiều hơn, ở âm cung thì gái nhiều hơn. Riêng sao Tử Vi vừa là nam đẩu
vừa là bắc đẩu nên nếu đi chung với nam đẩu thì trai nhiều hơn, với bắc đẩu thì
gái nhiều hơn.

Trong trường hợp cung Tử
vô chính diệu thì căn cứ vào chính tinh xung chiếu để tính: nam đẩu là trai, bắc
đẩu là gái. Nếu có cả nam, bắc đẩu đồng cung xung chiếu vào cung Tử thì tùy theo
cung Tử là dương thì trai nhiều, âm

là gái nhiều.

b. Vấn đề tiên đoán sinh trai, gái vào năm sinh nở:

Nếu năm sinh nở rơi nhằm
cung có nam đẩu thì sinh trai, có bắc đẩu thì sinh gái. Nếu có cả nam bắc đẩu đồng
cung thì căn cứ vào dương cung của năm sinh để đoán trai, âm cung để đoán gái.
Nếu năm sinh rơi vào vô chính diệu thì dựa theo trường hợp vô chính diệu ở đoạn
trên mà tính.

c. Tuần, Triệt và vấn đề
trai gái:
Trong mọi trường hợp
cung của năm sinh nở gặp Tuần hay Triệt hoặc Tuần, Triệt đồng cung thì mọi kết
luận phải đảo ngược.

d. Vấn đề trai hay gái đầu lòng: Nếu cung Tử có nam đẩu thì sinh con trai trước, nếu có
bắc đẩu thì sinh con gái trước. Nếu từ cung Tử biết con đầu lòng là trai mà đến
năm sinh nở lại sinh gái thì phải đoán rằng sinh gái đầu lòng khó nuôi còn sinh
đúng trai thì dễ nuôi. Ngược lại, nếu cung Tử cho biết con gái đầu lòng mà vào
hạn sinh nở lại gặp trai thì khó nuôi.

3. Số lượng con:

a. Các sao đông con: Sao Tràng Sinh: 8 con và
sao
Đế Vượng: 7 con. Những sao hay bộ sao 5 con bao gồm: Tử Vi ở Ngọ – Tử, Phủ đồng
cung – Thiên Phủ ở Tỵ, Hợi – Thái Dương, Thái Âm sáng sủa – Thái Dương, Thái Âm
đồng cung – Thái Dương, Thiên Lương ở Mão – Thiên Lương ở Tý, Ngọ – Thiên Đồng,
Thái Âm ở Tý – Thiên Đồng, Thiên Lương ở Dần – Thiên Cơ, Thiên Lương đồng cung
– Thiên Cơ, Thái Âm ở Thân – Cự Môn ở Hợi, Tý, Ngọ.

b. Các sao có số con trung
bình:
từ 3-5 con, bao gồm: Tử Vi ở Tý – Liêm Trinh,
Thiên Phủ đồng cung – Thiên Phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu – Thiên Đồng ở Mão – Cự
Môn, Thái Dương ở Dần, Thân – Thiên Tướng ở Tỵ, Hợi, Sửu, Mùi – Thái Dương,
Thiên Lương ở Dậu – Thái Dương hay Thái Âm hãm – Thái Âm, Thiên Cơ ở Dần – Tham
Lang ở Thìn, Tuất – Thiên Lương ở Sửu, Mùi, Tỵ, Hợi – Cự Môn, Thiên Đồng đồng cung
– Thất Sát ở Dần, Thân – Phá Quân ở Tý, Ngọ – Tử Vi, Thất Sát đồng cung – Quan
Đới, Lâm Quan, Dưỡng – Tả Phù, Hữu Bật

c. Các sao ít con, làm giảm
số con:
ít con được kể như có
hai hay một người con, bao gồm các sao hay bộ sao còn lại, ngoại trừ các sao kể
trong cách hiếm muộn. Trong số các sao làm giảm số con, đặc biệt có sao:

Lộc Tồn: làm giảm đi hai con

Tuần hay Triệt gặp chính
tinh sáng sủa
, sẽ làm
giảm một nửa số con.

4. Cách sinh đôi: những bộ sao có ý nghĩa sinh đôi khá chắc chắn bao gồm:

– Thai, Nhật, Nguyệt đồng cung

– Nhật, Nguyệt ở Tử giáp sao Thai

– Thai, Tả, Hữu đồng cung

Những bộ sao
dưới đây không chắc chắn lắm:
Thái Dương, Thiên Hỷ – Thái Âm, Thiên Phúc – Hỷ Thần, Tuyệt đồng cung – Thiên Mã, Tả, Hữu, Địa Không đồng cung.

CÁCH HIM MUN CON – NHNG SAO HIM CON

1. Cách hiếm muộn qua các
sao:

a. Các chính tinh ở cung Tử:

Vũ Khúc: dù đắc địa
hay hãm địa, Vũ Khúc chỉ sự cô độc, ít oi. ở thế hãm địa, con sinh ra càng khó
nuôi và tốn kém lúc nuôi dưỡng. ý nghĩa hiếm muộn càng rõ rệt hơn nếu Vũ nằm ở
cung Tử của nữ số. Đi với Thất Sát thì càng ít con hơn, khả dĩ tuyệt tự. Nếu có
thì còn cũng có tật hoặc hoang đàng, cha mẹ không nhờ vả được. Dù đi với Thiên
Tướng cũng còn hiếm con. Đi với Phá Quân may ra được hai con nhưng không thể có
con trai.

Thất Sát ở Thìn, Tuất: hiếm con, con lại mang tật bệnh hay hoang đàng. Nếu ở
Tý, Ngọ thì nhiều lắm là được hai người, có thể có một trai. Đi với Liêm Trinh,
ý nghĩa tương tự.

Tham Lang ở Tý, Ngọ: con hữu sinh vô dưỡng và rất ít, đặc biệt là không thể
có con trai. Ngoài ra, con lớn lên thường bất mục, khó dạy.

Phá Quân: hiếm con,
hữu sinh vô dưỡng, lại hình khắc với cha mẹ dù Phá tọa thủ ở cung nào cũng vậy.
Đặc biệt đi với Liêm Trinh, ý nghĩa cũng tương tự.

Thiên Đồng ở Thìn, Tuất, Tỵ, Hợi: hiếm con và khó nuôi con, may mắn thì được một con, ở
Tỵ Hợi thì có hai nhưng sau này tha phương cầu thực, hoang đàng. Đồng cung với
Nguyệt ở Ngọ cũng hiếm, nếu là nữ số thì sự hiếm muộn này bắt nguồn từ khí huyết
suy nhược.

b. Các phụ tinh

(thiếu)

CÁC CÁCH ĐI TU

Thân đều tốt, đặc biệt
là ở Phúc.

Thiên Đồng: sao này
cũng phải miếu, vượng và đắc địa mói có ý nghĩa tốt như Thiên Lương. Thiên Đồng
càng thiện khi hội tụ với Thiên Lương ở Dần, Thân: xu hướng bác ái nhờ đó càng
thêm mạnh.

Thiên Quan, Thiên Phúc: chủ làm việc thiện, tư tưởng thiện, tinh thần cứu nhân
độ thế, niềm tin nơi thiêng liêng, năng khiếu tu hành, triển vọng đắc đạo. Nếu
cả hai sao này cùng hội chiếu vào Phúc, Mệnh hay Thân thì

hiệu lực càng mạnh thêm.

Ân Quang, Thiên Quý: mang rất nhiều ý nghĩa phúc đức và trường thọ. Về mặt
tính tình, người có Quang Quý là kẻ nhân hậu, từ thiện, thành tín với bạn bè,
hiếu đễ với cha mẹ, chung thủy với vợ chồng, sùng đạo với thiêng liêng. Về mặt
giải họa, Quang Quý biểu tượng cho sự phù hộ của thần linh, sự trợ lực của người
đời trong nhiều phương diện. Về mặt siêu hình, Quang Quý hỗ trợ cho sự cảm
thông với linh thiêng, tinh thần vọng đạo hết sức mạnh mẽ. Từ đó, năng khiếu đi
tu có triển vọng thành đạt nhiều hơn kẻ khác.

Tứ Đức: đều chủ
cái hạnh tốt đẹp của người thiện tâm, lấy nhân nghĩa lễ trí tín làm kim chỉ nam
xử thế.

Hóa Khoa: cái hạnh của
Hóa Khoa cũng tương tự như cái hạnh của Tứ Đức. Sự khác biệt khả dĩ là hạnh của
Tứ Đức xuất phát từ tâm, trong khi cái hạnh của Hóa Khoa bắt nguồn từ văn hóa,
học vấn mà có.

2. Những sao thất bại ở đời:

Những sao này thường
đóng ở Mệnh, Thân có thể là ở Phúc cũng mang ý nghĩa tương tự: Tử Vi với sát
tinh – Vũ Khúc với sát tinh – Thiên Phủ, Tuần, Triệt với sát tinh. Đây là phá cách
gọi chung là “đế ngộ hung đồ” ngụ ý một kẻ thất bại, bất đắc chí ở
trường đời.

Cơ, Lương, Kình, Đà, Linh, Hỏa, Tướng

Cơ, Lương, Tuần, Triệt với sát tinh

Xương, Khúc, Tuần, Triệt với sát tinh

bất hạnh nặng nề cho kiếp
sống con người, thúc đẩy thế nhân đi tìm nguồn an ủi khác trong cõi đạo.

Tử, Tham với Không, Kiếp: ở Mão Dậu là người yếm thế, bi quan, có khiếu tu hành.
Gặp thêm Không, Kiếp là bị nghiệp chướng ở đời.

Mệnh vô chính diệu gặp sát tinh – Sát tinh vây hãm các
cung cường:
cách của
người dễ đi tu.

Hồng Loan, Thiên Không: kẻ thất bại vì tình, thường tìm sự đoạn tuyệt nghiệp tình
để đi tu.

3. Những sao cô độc:

Cô Thần, Quả Tú – Đẩu Quân – Vũ Khúc: điển hình cho sự cô độc, nói rộng hơn là sự đơn thân,
lẻ bóng trong gia đạo, dù đóng ở Mệnh, Thân, hay ở Phu Thê, Tử. Càng gặp nhiều,
tình trạng cô đơn càng chắc chắn, nhất là đối với nữ số.

(Sưu
t
m)

 

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s