Phú Tử Vi Thông Thư (ST- KHHB)

Phú Tử Vi Thông Thư

Vân Hồ sao lục

Người xưa học và xem, đoán tử vi với vài câu phú ngâm nga đơn giản, sao
vẫn hay, vẫn đúng ? Ngày nay ,chúng ta với bộ óc phân –tích, đem quá
nhiều lý luận vào Tử- Vi làm môn này “ mọc” thêm quá nhiều nguyên tắc
giải đoán , kết quả chẳng hơn ngày xưa bao nhiêu, mà chỉ thêm mệt óc,
chán nản.

Vậy xin đề nghị như thế này : Chúng ta cứ giở tài liệu xưa kia mà nghiên
cứu kỹ : thế mà lại hay. Một bài thuốc bí- truyền, nếu dùng thấy hay,
xin cứ để nguyên như vậy, xin đừng gia giảm quá nhiều vị khác vào làm
mất tính chất hay của vị thuốc kia đi.

Tử vi cũng vậy. Xin tạm trình bày bài phú này, tóm tắt cách giải đoán 12
cung thành một loại tóm tắt, như vậy lại dễ nhớ, dễ áp dụng, đỡ phiền
hà rắc rối, coi cho ai cũng được. Xin mời các bạn thử áp dụng bài phú 683 câu
này


Luận về số mệnh con người, có hay không có số mệnh? Quan điểm của mỗi
người một khác cho nên vấn đề này còn đang trong vòng bàn cãi. Hiện có
hai phe rõ rệt: một số cho rằng phàm những sự xảy ra trong một đời
người, ngay cả đến những sự nhỏ mọn như việc ăn uống, đi lại đều có định
trước. Đó là người tin theo thuyết tiền định. Tử vi, Bói dịch …
dựa vào lẽ số mệnh đã được an bài, định trước.


Một số người khác lại không cùng quan niệm như vậy. Họ cho rằng muôn sự xảy ra
chẳng qua do luật nhân quả. Cũng như ngồi đánh một ván cờ vậy, hai
người ngồi đánh cờ với nhau mà còn có ngẫu biến, người nọ đi một nước cờ
rồi, người kia tùy theo địch thủ đỉa sao rồi mới còn có thể ấn định
nước cờ của mình được. KHông ai ngồi vào đánh một ván cờ mà có thể biết
chắn chắn được rằng thua hay thắng. Cuộc đời cũng vậy, nhân sự tùy thuộc
vào biết bao biến cố ngẫu nhiên, biết thế nào mà dám đoán trước? Đó là
thuyết ngẫu biến, cho rằng mọi sự, mọi vật, hình thành mà biến chuyển
tùy theo các duyên ngẫu nhiên mà nên, không sao có thể định trước được.


Xét ra hai thuyết trên đều có lẽ phải. Số người tin theo mỗi thuyết cũng
khá đông. Học lực chúng tôi còn kém , chưa thể hiện ra được những lý lẽ
cao xa cho rằng thuyết này đúng, thuyết kia sai, chỉ xin nêu ra để mọi
người cùng suy ngẫm. Được đến đâu hay đến đó. Chỉ xin ghi lại sau đây ít
dòng về phú Tử- Vi mà thôi. Về bộ môn này, Trung Hoa là nước phát xuất
ra trước tiên ở Á- Đông. Bên Trung Đông, khoa lý số Ả-rập ( chiêm tinh)
cũng dùng tinh tú để luận số mệnh người ta. Cả hai khoa Tử vi của Trung Hoa
và Chiêm tình của Ả rập, tuy xuất phát từ hai nơi riêng biệt, lại có
chung một điểm đồng ý với nhau là : “ Phàm một người lấy số thấy thiệt
hay, không phải bó buộc người đó sẽ có một cuộc đời rực rỡ, có khi còn
thường hoặc kém là khác nữa. Nhưng những bậc anh hùng cái thế, khi bấm
số họ, thấy chắc chắn là phải hay.”


Như vậy là cả hai khoa trên đều áp dụng phương pháp nhìn tướng hoặc căn
cứ vào sự nghiệp rồi mới luận số mệnh được, không bao giờ chỉ luận mệnh
suông, căn cứ vào năm tháng ngày giờ không mà thôi.


Hiện chúng ta chưa đi đến chỗ tinh vi như vậy. Tuy nhiên, lấy một lá số
Tử Vi theo phương pháp an sao đồng nhất mà nhiều người đã công nhận, thì
khi bấm số , dầu ai cũng vậy, đều có một là số như vậy. Duy có cách
đoán, thì có người đoán thấp, kẻ đoán cao, tùy theo học lực và kinh
nghiệm của thầy đoán, nhưng có điều chung, ai cũng phải công nhận là
không thể đen đoán ra trắng, và trắng đoán ra đen được. Như vậy, tất
cũng đã kinh nghiệm rồi, cho nên mới tồn tại được mấy ngàn năm như vậy.
Vậy xin cứ chép ra đây, ai tin thì dùng, ai không tin thì cũng xin để
dùng làm tài liệu nghiên cứu một môn lý học cổ do cha ông để lại.

Phú Tử Vi Thông Thơ

( 683 câu )

1) Mệnh viên

Một là bàn đến mệnh viên,


Có sao thủ mệnh đoán bên tính tình.


Tử vi trọng hậu dung hình


Thiên phủ tiết hạnh, thông minh ôn hòa.


Hai sao đều gặp một nhà,


Thiên tư ôn thuận thiệt là tốt ghê


Lòng lành tính gặp Thiên Cơ,


Vũ tinh nhập miếu , anh kỳ tài năng.


Thái âm viên mãn ai bằng


Thiên đồng phì mãn, tính hằng ôn lương,


Phá , Liêm to nhỏ khác thường,


Tính tình cương trực, kết đường tà gian,


Thiên Lương từ hậu dung nhan


Sát – Hình miếu địa, khôn ngoan anh hùng


Tham Lang tính bẩm thung dung


Say miền gái đẹp, rượu nồng mùi ngon


Thái Dương tính khí thực khôn


Thanh kỳ bậc nhất, từ lương khác thường


Kìa như Văn Khúc, Văn Xương


Tư nhan khả ái , thông đường văn chương.


Cự môn tính khí bất thường


Hễ khi sử sự, tìm đường đảo điên


Thiên Tướng lòng thẳng, mặt hiền


Thiên tư mỹ lệ : Khoa, Quyền hẳn hoi


Thanh bần ấy thật Việt- Khôi


Lại gia Thai phụ là nòi khoan dung


Phụ – Bật tuấn tú vốn dòng


Đáng tài hơn chúng, tốt dùng chẳng không


Phụ Bật đơn thủ mệnh cung


Đoán rằng số ấy ly tông cửa nhà


Phượng- Long đều hợp mệnh ta


Làm người cốt cách, ôn hòa tốt thay


Tuế – Riêu họa xướng ư nhời


Nhận –Hư , lòng gió là người sai ngoa


Mây mưa ấy thật Đào Hoa


Lông kia đỏ kệch, Kỵ Đà xấu trông


Trán đen, tính nóng , Kiếp, Không


Hỏa- Linh mặt mũi hình dung bi sầu


Tuế- Phá lạc hãm một âu


Tiếng tăm như sấm ra màu vẻ vang


Kìa như nói chẳng há răng


Thiên Hình đơn thủ chốn đằng mệnh cung.


Lộc, Mã khéo kiêm nàn nồng


Phúc , Tấu bá đạo, mong trông một lòng.


Hoa Cái má phấn, lưng ong.


Hỷ Thần dài dọng, tâm hung, tràng đầu,


Triệt, Không tính những chẳng âu


Hung trung vô định ra màu gian nan,


Tuế , Tham trong dạ đa đoan,


Kỵ, Diêu tửu sắc, một đoàn ngao du,


Hổ, Tang chẳng việc mà lo,


Quan Phù , Điếu Khách hay phô rộng nhời,


Lưỡng Hao nhỏ nhặt hình người,


Phi Liêm tóc tốt, có tươi mà dầu,


Quý, Ân phong độ trượng phu


Chẳng hay quân tử hình thù cũng xinh,


Tướng Quân chỉ thích dụng binh,


Bệnh Phù đới tật trong mình chẳng không


Cô , Qủa thiết kỵ riêng lòng,


Tràng sanh, Đế Vượng, vốn dòng thiện lương.


Đào Hoa, Mộc Dục điểm trang.


Lâm Quan tính khí dịu dàng, tinh anh.


Mộ thì chẳng được thông minh.


Thai hay mê hoặc lại hay tha tùng,


Triệt mà gặp được Kim cung


Tinh thần thanh sảng, thung dung đế thần,


Tuyệt phùng hỏa địa một khi,


Hiên ngang chí khí, gặp thì thung dung.


Kìa Suy, Bệnh, Tử ba dòng,


Gặp vào nước ấy, ai dùng? Ai mang?


Hóa Lộc tính khí dịu dàng,


Bác Sỹ tính nết tìm đường tư hoa.


Thiên Đức, Nguyệt Đức khoan hòa.


Lộc Tồn đôn hậu, thiệt là quy mô


Phá Quân tâm tính hồ đồ.


Kiếp Sát xử sự ba đào mênh mông


Xem trong nhân tính đã xong


Lại tính cho thấu các cung ngũ hành


Tướng chân tính, nhận chân hình,


Chẳng nên chấp nhất, lựa mình mà suy


Ví như thuộc Thổ Tử Vi


Tính trì mà gặp hỏa thì lại nhanh


Thiên Phủ vốn tính hòa lành


Song gặp Không, Kiếp thời rành khác thâm

2) Phụ mẫu cung

Cả hai phụ mẫu kể tường.


Âm, Dương ngộ hãm là đường khắc xung


Hãm Dương khắc phụ đã xong


Hãm Âm khắc mẫu vào vòng chẳng sai


Hổ, Tang, Thái Tuế cùng bầy


Lưu Dương lại gặp đoán rầy khắc cha


Gặp sao Hóa Kỵ khiếm hòa


Thiên Hình, Tuần, Triệt mẹ cha mất rồi


Cáo, Phong có chức, có ngôi


Khúc, Xương, Thái Tuế thì người cũng sang


Khôi, Khoa phát đạt khoa tràng


Khôi, Quyền chính trưởng đường đường tốt thông


Thanh bần ấy phải Hóa, Không


Nhược bằng Lộc , Mã phú ông ai tày


Phụ mẫu cung đã đoán bầy


Đoán từng phần một, cốt hay tại người.

3) Phúc đức cung

Số ba phúc đức kề liền.


Lộc, Quyền đóng đó trong miền bản cung,


Ở đời vinh hiển đã xong.


Kiếp, Không ở đấy bần cùng khốn thay.


Nay đây mai đó càng hay


Lại xem cung ấy sống rày được bao?


Đồng , Lương, Tử, Phủ bốn sao,


Trên tuần bát cửu thọ nào ai hơn


Âm, Dương, Xương, Khúc , Lộc Tồn,


Với sao Thiên Tướng, Cự Môn tinh thần.


Thọ thì được ngoại thất tuần


Miếu thì thong thả, ham thì tân toan,


Liêm, Cự ta lại phải bàn,


Ngoại tuần lục thập mới hoàn Diêm la,


Việt , Khôi, Tả, Hữu, Quyền, Khoa


Lộc, Tham, Đế Vượng, thật là tràng sinh,


Đà La, Dương Nhận, Hỏa Tinh,


Vào thì ba bốn rành rành không sai.


Kiếp, Không, Hư, Khốc cùng bầy.


Thiên Hình, Hóa Kỵ, mới loài bạch tang,


Nhị Phù tổn thọ một phương,


Thật là lạc mộ, nên dường chẳng sai.


Sát, Liêm, Tứ Sát cùng bầy


Đoán làm bần yểu xưa nay rõ ràng.


Cao thanh, Thọ ,Qúy, Ân Quang,


Những là sao ấy thọ tràng kỳ di.


Lại thấy Thân, Mệnh mà suy


Nam tinh chính chiếu thọ kỳ vô cương,


Đã xem hưởng thọ đoán tường,


Lại xem phúc đức đoán phương âm phần,


Tràng Sinh chính phát thập phần,


Gặp sao Quan, Phúc, Qủy thần chầu trông


Phúc, Liêm, nội ngoại thung dung


Khoa , Quyền, Xương , Khúc vốn dòng văn gia


Vũ, Tham mà gặp Hóa Khoa


Đấy là đất phát đề đa anh hung


Cự Môn, Lộc, Lộc tương phùng


Đoán rằng phú quý gia phong đời đời.


Nay là đoán trước mấy lời,


Được đất nằm nghiệm chẳng sai đâu là,


Lại xem hướng mạch kể ra,


Trước lấy khởi tổ ấy là Tràng Sinh


Thanh Long lấy làm long hành


Đến đâu nhập thủ xem hình chiếu lâm


Phải lấy chi tự ( Địa Chi) phân kim


Xem cho chuẩn đích đoán tìm mới ngoan,


Trước có Dương Nhận, Hồng Loan,


Nga mi tác án yên bàn chẳng sai


Thanh (Long) Hồng ( Loan) là thủy nhập hoài,


Tùy cung mà đoán cho người mới thông.


Lại như Vũ Khúc, Triệt Không,


Lấy làm hành lộ khuỳnh khuỳnh trước sau,


Kìa Long với Hổ lai chầu


Xem bên Tả Hữu mới hầu luận xong.


Bên tả có sao Thanh Long,


Lấy làm Long thủy chầu vòng tả biên


Bên hữu Bạch Hổ đã yên,


Lấy làm Hổ thủy chầu bên hữu này,


Lại xem tinh tú yên bầy.


Thái Dương, Vũ Tướng cùng rày Phá Quân,


Khoa, Quyền, Khôi, Việt tinh trần


Lấy làm dương mộ mười phần chẳng sai


Còn như đoán mả đàn bà


Xem sao miếu vượng gần xa, đoán đời


Tử, Phủ, tổ mộ chẳng sai


Lạc nhàn thì đoán xa rời mà thôi


Thiên Cơ dương tổ sáu đời


Vũ năm, Đồng tứ, chẳng sai chút nào


Liêm Trinh bảy tám đời cao


Thái Dương là bố lẽ nào chẳng tin


Cha còn thì đoán ông liền


Ấy là dương mộ đoán miền dương tinh


Thiên Phủ viễn tổ đã đành


Tham sáu , Cự bảy, Lương rành tám thôi


Phá Quân, Thất Sát xa đời


Thái Âm là mẹ gần nơi đó mà


Nếu còn thì kể đến bà


Ấy là âm mộ thuộc Tòa âm cung


Thiên Đức, Nguyệt Đức tương phùng


Mộ phần thiên táng ắt cùng chẳng sai


Suy xem tinh tính hẳn hoi


Ấy là chứng nghiệm mà soi cho tường


Đà La ngộ Dưỡng chẳng thường


Đoán rằng đạo táng gần phương mả này


Lại tùy chính diệu suy bầy


Lại nhân Không , Kiếp đoán rày lạc phân


Hoa Cái , Phượng Các tân phần


Tấu thư, Xương , Khúc là thần đồng ra


Hoặc khôi, Việt gia Hóa Khoa


Đại khoa sự nghiệp vinh hoa vô cùng,


Lộc Tồn, Hóa Lộc tương phùng


ấy là phú quý vốn dòng chẳng không


Tử Vi nhập miếu vượng cung.


Phát nên có kẻ chầu trong vương kỳ


Lương, Tham thọ khảo kỳ di


Lại xem đất phát cung phi vẻ nào,


Bởi chưng Hoa Cái, Hồng Đào,


Gặp sao Tử, Nhật gái chầu quân vương.


Đế Vượng đóng chính cung tường


Ắt là trong họ vượng đường nhân đinh


Tuế , Phù tụng sự tương tranh.


Lộc Tồn, Cô Quả độc đinh thường thường,


Tang Môn, Quả Tú bất thường,


Ấy là trong họ gái thường quả phu


Phục binh ngộ Tử phải lo,


Có người bị trận, chết co ngoài đường,


Mộ cư Phúc Đức đường đường,


Lại gia Thai, Tọa ấy Trường sinh ta


Hỷ thần, Thiên Hỷ hoặc gia,


Ấy là đắc địa chẳng hòa được đâu,


Lại bàn hình thế mọi mầu ( Ngũ hành các sao)


Tổ sơn là Tử, Phủ chầu kể ra


Mộc tinh là Thiên Cơ gia,


Kim Tinh vũ Khúc, Mộc là Tham Lang,


Văn khúc là thủy đáo đường


Liêm Trinh là hỏa, Thiên Lương Thổ này,


Âm long, Âm hướng sao này Thái Âm,


Thất Sát cũng Hỏa tinh lâm.


Phá Quân là thủy, Cự tầm Thổ tinh.


Thiên Đồng, Thiên Tướng đất binh,


Sao Dương là núi, sao Linh bút bầy


Mộc, Trì là giếng gần đây,


Thiên Quan, Thiên Phúc gần ngay Phật, Thần.


Kiếp, Không lộ táng dương phần,


Kỵ, Riêu là thủy, sát nhân hoàng tuyền,


Thanh Long có suối lưu triền.


Bạch Hổ đá trắng ở bên mộ đường,


Khoa, Quyền là bản văn chương,


Lộc ; kỳ, Việt : kiếm, rõ ràng đóng đây,


Ấy là phần mộ đoán bày.


Cốt xem Phúc đức mới hay mọi đường.

4) Điền trạch cung

Bốn là bàn đến cung Điền,


Phủ, Vi đóng đấy, Tài Điền vượng thay,


Vũ, Cơ tài sản cũng hay,


Song hiềm hoán dịch ngày này nhiều phen,


Âm , Dương miếu ấy đa điền,


Nhược bằng ngộ hãm vào miền bằng chân


Thiên Đồng hậu dị, tiêu nan,


Tham Lang tổ nghiệp phá tan lại thành


Cự Môn tổ nghiệp tan tành,


Sinh ra đổi chác sau rành được yên


Sát sinh bỗng chốc mà lên,


Nhược phùng hãm địa, bình yên thường thường,


Phá Quân của khéo dở dang,


Nhược bằng ngộ hãm là tuồng khó khăn.


Tướng , Lương, Tả, Hữu khoa văn.


Việt , Khôi, Quyền , Lộc, Mã gần Trường sinh,


Điền viên đều vượng tậu tành,


Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Đà, Kình lục tinh,


Nhị Hao, Kiếp Sát, Phục Binh,


Không Vong, Tang, Tú, Phù tinh vô điền,

5) Quan lộc cung

Năm là quan lộc đoán ngay,


Thái Dương, Xương, Khúc ở đây cung này,


Điện rồng chầu trực đêm ngày,


Đoán rằng số ấy tốt thay lạ thường,


Việt, Khôi, Tả, Hữu, Cơ, Lương,


Khoa, Quyền, Tử, Phủ họp cùng Trường Sinh,


Tướng, Đồng, Lộc, Mã, Vũ tinh


Đều là cát tú được mình hiển vinh.


Âm, Dương, Quyền, Lộc được rành,


Như bằng hãm địa ắt thành lại hao,


Liêm Trinh vũ chức, quyền cao,


Như bằng ngộ hãm, khỏi nào hình danh,


Tham Lang mà gặp Hỏa ,Linh,


Miếu thì phú quý, hãm: bình mà thôi,


Sát, Cự Tý Ngọ , ở ngôi,


Vượng thì vũ chức , hãm thời hình thương,


Phá Quân lao khổ trăm đường,


Nhược ngồi Tý, Ngọ tài thường vượng thay,


Tham Lang, Xương, Khúc ngày rày


Ngộ cung Tị Hợi quan này, làm ru,


Liêm , Tham, Đà, Nhận phải lo


Phải mang dan díu , quanh co bận mình


Phù , Tang, Không, Kiếp ,Hỏa, Linh


Khốc, Hư, Đà, Nhận, Kiếp, Kình Nhị Hao,


Phục Binh , Phá Tú xúm vào


Đoán rằng quyền lộc làm sao cũng hèn

6) Nô Bộc Cung

Sáu là nô bộc đoán tường


Tử , Phủ, Tả, Hữu, Âm, Dương, Lương, Đồng


Việt , Khôi, Tam Hóa tương phùng


Cáo, Loan, Cơ, Mã lại cùng Tướng tinh,


Quý, Quang, Xương, Khúc cũng lành


Vũ Tinh mà đóng rành rành bản cung


No thì nó ở hầu ông


Đói thì nó bước chẳng mong nỗi gì


Liêm Trinh kìa nó càng ghê


Làm ơn nên oán bấc chì mỉa mai


Tham Lang vì nó hao tài


Cự Môn báo oán những lời thị phi


Sát thì sinh sự thị phi

7) Thiên Di Cung

Bảy là bàn đến Thiên Di


Lộc Tồn, Hóa Lộc tốt thì hòa hai


Vũ, Lương, cự phú chẳng sai.


Khúc, Xương, Tử, Phủ, Việt, Khôi, Khoa, Quyền,


Âm Dương, Tả, Hữu rất hiền,


Cùng là Đồng, Tướng gần miền quý nhân,


Thiên Cơ lẩn thẩn, khốn thân,


Nhược bằng ngộ cát, mười phần tốt thay,


Liêm Trinh nội trở, ngoại hay,


Đi thì cũng lợi, mới tày Tham Lang.


Lại thêm dâm dục , hoang tàn,


Vũ Tinh xuất ngoại thường thường được yên


Cự Môn khẩu thiệt đảo điên,


Nhị Phù, Phá, Tú cùng miền Thiên Di,


Đoán rằng lộ thượng, mai thi,


Phá Quân, Thất Sát ắt thì chẳng yên


Tham Lang, Hóa Kỵ hợp miền,


Quán rằng lộ tử, chẳng tuyền được đâu


Cự Môn, Linh,Hỏa xung nhau


Tử ư đạo lộ ra mầu xo ro,


Liêm phùng Quan Phủ, Quan Phù,


Ấy là tử nghiệp chẳng hòa được đâu


Kìa như đạo lộ phải âu,


Bởi Liêm, Sát, Phá vào hầu Thiên Di


Kìa ai ký ngụ, phong tư ( đời sương gió)


Bởi chưng Thất Sát, Nhị Phù, Kình Dương


Tứ Sát đóng chính cung tường,


Ách nguy thêm lại hại đường tổ tông


Vũ , Liêm chẳng khá đồng cung


Luận rằng số ấy bần cùng ai qua


Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Dương, Đà,


Tham, Hình, Hóa Kỵ cùng là Khốc Hư


Phá Quân phương ấy phải lo,


Thiên Di cung ấy đoán cho kỹ càng.


8) Tật Ách cung

Tám là Tật Ách chẳng âu,

Âm, Dương phản bội làm màu bất minh,


Mệnh cung lại có Không tinh


Nhãn manh mục tật, rành rành phải mang,


Phá , Liêm, Hình, Kỵ, Đà, Dương,


Đã đau bên mắt, lại càng bệnh điên


Khúc , Xương, Tả, Hữu vào miền.


Việt, Khôi, Tử, Phủ, Khoa , Quyền, Đồng, Lương


Lộc Tồn, Hóa Lộc một phương.


Ốm thì lại gặp thuốc thang, sợ gì,


Thiên Cơ phải chứng thấp tê.


Nhược bằng gia Sát mặt thì vết ngang,


Phong đàm bệnh ấy liền liền,


Bởi sao Cơ, Vũ đóng miền Ách phương


Nhược bằng gia Sát trĩ sang.


Thái Âm đau bụng, Thái Dương buốt đầu,


Gia Đà, Kỵ, Sát cũng rầu


Đoán rằng mục tật, ấy hầu phải đau.


Phá Quân Khí huyết bất điều,


Đồng, Lương hàn, nhiệt là điều phải lo.


Tướng Tinh đau ở bì-phu,


Cự, Liêm, Nhật, Nguyệt, hình thù cơ nghinh


Đà La, Dương Nhận ít yên,


Đâu chân nhức mắt, chẳng hiền được đâu,


Dương, Đà, Phá, Kỵ mắt đau,


Bởi đường sao ấy gặp hầu Tham Lang.


Sát Tinh thấp khí yếu đau.


Tứ Sát có bệnh bởi hầu Sát gia,


Tham Lang tật ách xông pha,


Lưng, chân có bệnh chẳng hòa được chăng,


Cự Môn mặt vết rõ ràng,


Chứ chi đới tật, xấu chàng hổ ai,


Kỵ, Hình đau mắt chẳng sai,


Dương, Đà, Linh, Hỏa cùng ngồi một phương.


Mặt kia có vết rõ ràng,


Lại thêm bệnh trĩ thường thường phải e.

9) Tài Bạch cung
Thứ chín kể đến cung Tài
Để mà thí nghiệm mấy lời kể ra
Vũ, Lộc, Thiên Mã cùng gia
Tử, Phủ mà gặp, phương xa nhiều tiền,
Tử-Vi, Phụ, Bật rất hiền,
Làm quan tài bạch ngoài miền lợi danh,
Thái-Âm mà với Vũ Tinh,
Luận bàn cùng phải rành rành chẳng sai,
Âm, Dương, Tả, Hữu giáp lai,
Có sao Đế-Vượng cùng ngồi chính trung,
Luận làm địch quốc phú phong,
Thiên-Đồng, Cơ, Vũ, tay không làm giầu,
Âm, Dương tài vượng chẳng âu,
Nhược bằng hãm địa, có, hầu lại không.
Sát Tinh đóng Tý Ngọ cung,
Hào tài hoạch phát đùng đùng chứa chan,
Chủ cung phút hợp phút tan,
Lộc-Tồn, Hóa-Lộc giàu tràn vẻ vang
Phá Quân tài tán chẳng thường,
Việt, Khôi, Tả, Hữu, Khúc, Xương, Khoa, Quyền
Với sao Hóa Lộc ở miền,
Ấy là phát phúc, tài, điền vượng theo,
Liêm Trinh trước dở sau hay,
Lộc-Tồn, Vũ Khúc đóng rày Tài cung,
Ấy là đại phát phú ông,
Kiếp, Không ở đấy, bần cùng chẳng sai.
Dương Đà, Linh, Hỏa tán tài.
Hoa, Hình, Hư, Khốc là loài như nhau.

10) Tử-Tức cung
Thứ mười Tử Tức kế bầy,
Trước sinh nam-Tử, nhiều bầy Nam-Tinh,
Bắc Tinh ấy gái trước sinh
Nhật sinh kỵ Nguyệt chiếm rành bản cung,
Dạ sinh kỵ Nhật chiếm trung,
Âm Dương lâm Tý là vòng khắc xung,
Vắng sao chính diệu Tử cung,
Phải tìm đối chiếu luận cùng mới xong,
Phủ, Vi, Đế-Vượng, Thiên Đồng,
Khúc, Xương, Tả, Hữu luận cùng năm tên
Nhược bằng gia Sát cũng hên / hèn (?)
Tràng-Sinh, Nhật-Nguyệt, Lâm-Quan một đoàn
Tướng, Lương, Quan-Đới rõ ràng,
Ấy là cũng được ba hàng thành thân,
Khoa, Quyền, Hóa-Lộc tinh trần
Việt, Khôi, Thiên Mã mười phần quý nhân
Cự, Cơ, Liêm, Tú Phá Quân
Bệnh, Thai, Mộc, Dưỡng ấy phần có hai
Suy thì có một mà thôi
Dương, Linh, Đà Hỏa cùng loài như sau
Kiếp, Không, lại gặp phải rầu
Cũng như Thất-Sát càng sầu cô đơn
Kỵ, Hình, Tử, Mộ một đoàn
Và sao Hư, Khốc phải phòng khắc xung
Lộc Tồn có một chẳng không
Hoặc là lại gặp quá phòng con nuôi.

11) Thê-Thiếp cung
Mười một bàn đến Thê cung
Nhân thê trí, phú bởi phùng Thái Dương
Âm phùng Hao tú một phương
Thành hôn chẳng lọ phải đường cưới xin
Nhật-Đồng nhiều vợ mà hiền
Kìa như Lộc, Mã tài điền vượng thay
Nguyệt phùng Xương, Khúc ngày rày
Cung trăng bẻ quế xem tầy lên tiên
Tử, Phủ hòa hợp bách niên
Đồng, Cơ trai gái kết nguyền cũng xinh
Trai tơ gái trẻ đã rành
Âm, Dương miếu địa sớm thành nhân duyên
Nhược bằng hãm địa sau nên
Vũ Tinh gia Sát mặc bên khiếm hòa
Tướng, Lương sớm nổi thành gia.
Sát gia sắc đẹp lấy nhà trưởng nhân,
Khúc, Xương, Tả, Hữu tinh trần
Thông minh giai lão trăm phần tốt thay,
Lộc Tồn muộn vợ những hay
Tham-Lang sớm lấy người rày khắc xung,
Tham mà gia Sát tối hung,
Phá Quân sớm khắc, ít lòng chính chuyên
Liêm Trinh phải khắc ba tên,
Cự Môn, Thất Sát luận bàn cũng in,
Sát Tinh xung khắc đã quen,
Người ấy dâm dục về miền trăng hoa
Khôi, Việt, Hóa Lộc, Quyền, Khoa
Quý nhân sánh mấy duyên ta tốt lành
Linh-Tinh, Kỵ, Hỏa, Đà, Kình,
Khốc, Hư, Không, Kiếp, đã rành khắc xung
Nhược bằng cát tú tương phùng,
Cũng là là giúp được vào vòng thiểm ninh
Tam phương mà gặp Sát, Hình,
Ly hương kết phối rành rành chẳng sai.

12) Huynh-Đệ cung
Mười hai Huynh đệ bàn liền,
Triệt, Không cùng thấy trong miền bản cung
Bắt đầu thì đoán khắc xung,
Hoặc gia Địa-Kiếp, Thiên Không chẳng nhiều
Tướng-Quân, Lộc, Mã cùng triều,
Anh em giàu có, phú nhiêu được dùng,
Tướng-Quân, Lộc, Lộc tương phùng,
Anh em có kẻ ở trong cửa quyền,
Tràng-Sinh Đế vượng lâm liền,
Anh em có kẻ tất nhiên yên bài.
Đôi bên Nhật, Nguyệt giáp Thai,
Sinh đôi một đốt chẳng sai tí nào,
Vượng Thai, Tuyệt Tướng thấu vào
Anh em ắt có dị bào chẳng không,
Đào Hoa, Riêu, Hỷ trong cung
Phá Quân tinh xứ đối cung ở ngoài
Có chị em gái theo trai,
Say mê đến nỗi hoang thai hổ mình
Trong thì Tướng, Phá, Phục Binh
Ngoài thì Hoa Cái cùng tinh Đào, Hồng
Ở cung đối chiếu trực xung
Anh em có kẻ dâm thông hẳn là,
Gặp sao Hóa Kỵ khiếm hòa,
Thiên Hình thường có trong nhà đánh nhau,
Lộc, Mã buôn bán làm giàu
Nhược bằng Vũ, Tướng ra mầu thợ công,
Tử-Vi, Tả, Hữu, tương phùng
Có chị em gái lộn chồng đi ra,
Thiên Khôi ba kẻ anh ta,
Thiên Việt ba kẻ em ta bầy đoàn
Xương, Khúc, Thái Tuế đều yên
Có người xã trưởng khôn ngoan ai cùng.
Tuyệt, Không, Không, Kiếp chính cung
Hoặc gia cát hội lại phùng Dưỡng Tinh
Luận làm nghĩa dưỡng anh em
Hoặc thêm Đà, Nhận, Hỏa, Linh, đoán cùng

PHỤ ĐOÁN

Luận nữ mệnh
Lại xem trong số đàn bà,
Cần là Tử tức cùng là Phu-Quân,
Gái hiền có phúc, có phần
Nữ nhân phú-quý tấm thân nhờ chồng.
Mệnh mà phú quý vô dùng
Điền, Tài lại cốt hai cung vẹn tuyền.
Phu Quân Thìn, Tuất cung nhan,
Mệnh, Thân Dậu, Tuất muôn vàn kể chi,
Chép Nhật, chép Nguyệt số kỳ,
Giáp Tả, giáp Hữu kẻ vì, người mong,
Tử cung Nhật hãm chẳng không,
Mệnh cung Hóa Kỵ ngại ngùng mây xâm
Hồng Loan, Tử, Vượng đồng lâm,
Phu Quân cung ấy mừng thầm vượng thay.
Xem trong Tử tức cung này,
Nhị-Minh (Nhật, Nguyệt) Thiên Hỷ thật hay rành rành
Phượng, Long đẹp đẽ, hiền lành,
Khốc, Hư táo tợn bụng rành hiếu trung.
Hỷ, Riêu đêm ngủ mơ màng,
Tính hay dối trá, Kiếp, Không đóng dồn,
Thai, Hoa, ngộ Kiếp hiếm con,
Thai phùng Nhật, Nguyệt lâm bồn song sinh
Mã phùng Đào tú linh đinh
Dương phùng Thái Tuế e mình khẩu tai,
Ách cung e ngộ Dưỡng, Thai
Mệnh hiềm Nhật, Nguyệt, gặp hai Dương, Đà
Tấu-Thư, Hoa Cái lượt là,
Phượng, Long lấy được chồng là quý nhân
Tướng, Loan, cung ngự phi-tần
Mộc, Cái thủ mệnh nhiều phần dâm phi
Phu Quân có Tham Lang vì,
Chính tinh làm cả, bàng thì làm hai,
Mệnh cung Xương, Khúc chiếu hai
Dẫu nhân duyên sớm nhưng người dâm phong
Lộc, Mã ích tử, vượng chồng,
Ví đồng Tử, Phủ ngự cung ra vào.
Thái Âm hãm tử chẳng sao.
Thái Dương mà hãm lẽ nào có con,
Liêm Trinh gặp Tham gian ngoan,
Thiên Đồng ngộ Nguyệt đông đàn chắc thay
Hóa-Lộc tài bạch buôn may,
Thiên Riêu, Xương, Khúc cả ngày vuốt ve
Trưởng huynh, huynh đệ Tử-Vi,
Thiên-Phủ tài bạch vậy thì phong doanh,
Hao tài bởi có Thiên Hình
Không Vong ngộ mã quyết tình ly hương,
Phá phùng Triệt-Lộ chết đường
Văn tinh sinh trễ, văn chương dịu dàng,
Cát tinh tọa chiếu rõ ràng.
Sinh con tài tướng, vẻ vang anh hùng.
Nguyệt phùng Phá, Kỵ phúc cung,
Nữ nhân cả họ dâm phong đó mà.
Thiên Lương người béo đẫy đà,
Thiên Đồng dư dật rồi mà hiển vinh,
Hình, Hỏa: mộc áp lôi kinh,
Phá Quân, Thái-Tuế tụng đình giáo toa
Loạn luân Thiên-hỷ Đào-hoa

Triệt, Tuần tương ngộ xiêu nhà kéo đi

Sát Phá nghèo khó có gì

Tang-môn ngộ Hoả có kỳ hoả tai

Thiên-riêu, Tham, Kỵ trùng lai

Phòng khi sông nước có thời chẳng yên

Đào-hoa, ngộ Kiếp đắm thuyền

Kình-dương, Linh, Hoả cuồng điên hẳn là

Cự, Đồng, Phá, Triệt cung gia

Có người phá cốt chiết nha rành rành

Ngọ yên mệnh Tử tương tinh

Đã hay chồng quý lại sinh con hiền

Liêm-trinh thanh bạch giữ gìn

Mệnh bền: Tỵ, Hợi giao chiều Lương, Âm

Thiên-cơ phá đảng chẳng nhầm

Hoá hồng Vũ-khúc, chính dâm Kỵ mà

Kiếp, Không, Tử Sát cùng gia

Có Tham, Liêm, Sát chiếu ba phương vào

Nhược bằng hiếu ở Phu hào

Ấy là toạ hoạ lao đao cả đời

ĐOÁN VẬN NIÊN SINH, TỬ
Lại xem sinh, tử đoán niên

Vận niên Thái tuế, lưu niên cung nào


Sát, Dương, Thương Phục, Không, Hao


Hỏa Linh, Kỵ, Kiếp chiếu vào hạn trung


Ghê thay Đại, Tiểu (hạn) trùng phùng


Đế tinh thụ hãm Không-Vong đó mà


Ấy là vận hạn khó qua


Lại Tham, Sát, Phá, trúc la thoát nào


Đế, Tướng, tam hợp chiếu vào


Họa may không chết, bởi sao cát phù,


Bảo cho biết trước mà lo….

PHỤ ĐOÁN TỔNG QUÁT




Mệnh, Thân và Hạn tốt đều

Càng gia càng được mỹ miều vinh xương

Mệnh Thân và Hạn tương đương

Xét ra xấu cả là phường hàn vi

Giáp Quý, giáp Lộc rất kỳ

Khoa, Quyền lưỡng giáp thật thì số hay

Giáp Nhật, giáp Nguyệt họa may

Giáp Xương, giáp Khúc số này rất sang

Giáp Không, giáp Kiếp lang thang

Kình, Đà lưỡng giáp, nhỡ nhàng ăn xin

Liêm Trinh sa sút rất hèn

Vì chưng Tỵ Hợi đóng miền Mệnh Thân

Thái Âm chiếu đến dạ phân
Nhất sinh khoái lạc, mười phần không sai

Tiền bần, hậu phú mấy người

Mệnh Thân cung ấy giáp bày Vũ, Tham

Hậu bần : giáp Kiếp đã cam

Lộc, Quyền : Tài, Phúc, xuất phàm vinh hoa

Cả đời bần tiện đó mà

Kiếp, Không : Tài, Phúc, thật là không thay

Khúc, Xương nhiều học mà hay

Tả Phụ, Hữu Bật khoan thai dễ dàng

Phủ, Tướng y lộc khác thường

Làm quan chắc hẳn nhiều đường hạnh thông

Thất Sát Triều Đẩu hãn phòng

Vinh xương tước lộc, tôn sùng biết bao

Đồng cung Tử, Phủ đóng vào

Chung thân phúc hậu lẽ nào chẳng hay

Tử Vi cư Ngọ cùng đây

Bằng không Sát phạm, ngôi này công khanh

Thiên Phủ lâm Tuất sao lành

Đai vàng áo tía, rành rành không sai

Khoa, Quyền, Lộc cũng mấy người

Miếu viên Vũ Khúc, rõ mười hách danh

Kìa như Lộc Ám Khoa Minh

Quan sang đến tận quân hành Tam Thai

Đồng lâm Nhật, Nguyệt số ai

Quan cư hầu vệ, đáng tài tước phong

Lại nhờ Cơ, Cự đồng cung

Ngôi rành chắc hẳn, đến vì công khanh

Tham, Linh tịnh thủ ai bì

Nổi danh tướng tướng thật là vẻ vang

Việt, Khôi cái thế văn chương

Thiên Khoa, Thiên Mã, nhẹ đường khoa danh

Văn Xương, Tả Phụ cát tinh

Ngôi cao bát vị hiển vinh trùng trùng

Hỏa, Tham miếu vượng uy hùng

Đồng cung Cự Nhật, quan Phong ba đời

Triều viên Tử, Phủ mấy người

Muôn chung hưởng được lộc trời tốt sao

Khoa, Quyền đối cũng chiếu vào

Vũ môn ba bậc, nhảy cao rành rành

Khen cho Nhật Nguyệt Tịnh Minh

Cửu trùng cung điện, hiển vinh giúp cùng

Phủ, Tướng đồng hội mệnh cung

Cả nhà ăn lộc, muôn chung sang giầu

Số kia Tam Hợp Minh Châu

Thiềm cung nhẹ bước, điểm đầu chu y

Phá Quân, Thất Sát hay đi

Đồng, Lương, Cơ, Nguyệt thật thi lại nhàn

Tử, Tướng, Nhật, Nguyệt tinh trần

Công hầu sĩ khí, tiến thân cửu trùng

Nhật, Nguyệt, Khoa, Lộc Sửu cung

Đoán là phương bá, cự công tiếng đồn

Kìa như Nhật chiếu lôi môn

Vinh hoa phú quý, cực tôn vô cùng

Lại như Nguyệt lạc Hợi cung

Gia quan, tiến chức, hầu phong đó mà

Dần cung Thiên Phủ đồng gia

Ngôi thang nhất phẩm, thật là vẻ vang

Ngộ phùng Tả, Hữu cùng phương

Ngôi cao bát tọa, rõ ràng hiển vinh

Lương cư Ngọ vị quan thanh (liêm)

Khúc phùng Lương tú, ngôi dành Thai cương

Dần Thân mừng hợp Đồng, Lương

Cự Môn Thìn Tuất, ngại đường hãm xung

Lộc đảo, Mã đảo Không Vong

Tử Vi vào hạn, giải hung ác trừ

Cự cư Mão vị làm sư

Trinh cư Mão Dậu, công tư tại tào

Nhận cùng Vũ Khúc khéo sao

Tham Lang hãm địa, thớt dao bán hàng

Cự Môn Tý Ngọ tương đương

Thạch trung ẩn ngọc, rõ ràng quý nhân

Tử Vi Thìn Tuất Phá Quân

Phú nhi bất quý, chịu đường hư danh

Phần nhiều lao lực, lênh đênh lạ lùng

Tuất cung phản bội Thiên Đồng

Tuổi Đinh hóa tốt, phú phong tiếng đồn

Thìn Tuất hãm địa Cự Môn

Tuổi Tân hóa tốt, lộc còn vẻ vang

Dậu cung rất kỵ Cơ, Lương

Nhật, Nguyệt phản bội, thanh quang mong gì

Chu Bột làm tướng chính vì

Tuần phùng Khoa, Lộc một khi đó mà

Kìa người Giả Nghị đăng khoa

Văn Tinh ám củng, thật là tốt thay

Bất phong Lý Quảng xưa rày

Kình Dương, Lực Sĩ mệnh này gặp nhau

Ông Nhan chẳng được sống lâu

Văn Xương lạc hãm, giữa đầu Thiên Thương

Trọng Do uy mãnh hùng cường

Liêm Trinh nhập miếu, gặp chàng Tướng Quân

Tài năng Tử, Vũ tuyệt luân

Đồng, Lương, Cự tú, Mệnh Thân chiếu vào

Nguồn: ST từ nhiều nguồn, KHHB, và chỉnh sửa cho đúng bản gốc KHHB, gõ thêm nhiều phần thiếu.

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s